XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỪ THỰC TIỄN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

14/10/2026 3:38:04 CH
Share Bai :

Tóm tắt: Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học là một khâu quan trọng trong quản lý khoa học ở cơ sở giáo dục đại học, có vai trò chuyển hóa định hướng phát triển, yêu cầu thực tiễn và nguồn lực thành hệ thống nhiệm vụ cụ thể để tổ chức thực hiện. Trong bối cảnh yêu cầu đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị đại học ngày càng cao, công tác này cần được thực hiện theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tính khả thi và dựa nhiều hơn trên dữ liệu. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và yêu cầu đối với xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học, bài viết phân tích thực tiễn công tác này tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện) giai đoạn 2021 - 2025. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học hiện nay.

Từ khóa:xây dựng kế hoạch; hoạt động khoa học; cơ sở giáo dục đại học; quản lý khoa học; Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

1. Đặt vấn đề

Nghiên cứu khoa học cùng với đào tạo là một trong những chức năng cơ bản của cơ sở giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển đội ngũ, tạo lập tri thức và nâng cao vị thế học thuật. Hiệu quả của hoạt động này không chỉ phụ thuộc vào năng lực nghiên cứu và mức độ đầu tư nguồn lực mà còn phụ thuộc đáng kể vào chất lượng công tác quản lý, trong đó xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học giữ vai trò quan trọng. Kế hoạch là khâu chuyển hóa các mục tiêu, định hướng phát triển thành hệ thống nhiệm vụ, sản phẩm và nguồn lực cụ thể; vì vậy, xây dựng kế hoạch không nên chỉ dừng ở việc tổng hợp danh mục nhiệm vụ mà cần xác định được trọng tâm, thứ tự ưu tiên, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được.

Yêu cầu này càng trở nên rõ nét trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong phát triển đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đồng thời yêu cầu “cải cách phương thức quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu” và “cơ cấu lại nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học và công nghệ bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải”[1]. Những yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác xây dựng kế hoạch khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học, bởi việc lựa chọn nhiệm vụ, xác định thứ tự ưu tiên và phân bổ nguồn lực phải được thực hiện ngay từ khâu lập kế hoạch.

Đối với hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (HVCTQGHCM), yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động khoa học còn gắn trực tiếp với nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và tham mưu, tư vấn chính sách. Nghị quyết số 44-NQ/ĐU ngày 11/7/2024 của Đảng ủy HVCTQGHCM xác định yêu cầu tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tham mưu tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước trong tình hình mới. Định hướng nhiệm vụ khoa học của Học viện hiện nay cũng nhấn mạnh việc xây dựng các chương trình nghiên cứu “có tính mới, tính dẫn dắt, tránh trùng lặp”[2], đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu phục vụ phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học trực thuộc HVCTQGHCM; đồng thời vừa mang đặc trưng của một trường Đảng, vừa là một cơ sở giáo dục đại học. Hoạt động khoa học của Học viện vừa phục vụ đào tạo đại học, sau đại học và bồi dưỡng cán bộ, vừa tập trung vào các lĩnh vực có tính đặc thù như lý luận chính trị, xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, công tác tư tưởng - văn hóa, báo chí, xuất bản, truyền thông và các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác; đồng thời phục vụ các nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển của Học viện. Trong những năm gần đây, hệ thống nhiệm vụ khoa học của Học viện ngày càng đa dạng về cấp độ, loại hình và yêu cầu sản phẩm, từ nhiệm vụ cấp Bộ, cấp cơ sở trọng điểm hoặc phân cấp, cấp cơ sở đến nghiên cứu khoa học sinh viên. Bên cạnh các nhiệm vụ trực tiếp phục vụ đào tạo, phát triển giáo trình và học liệu, Học viện còn triển khai ngày càng nhiều nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu các vấn đề chiến lược, tham mưu và tư vấn chính sách. Khối lượng nhiệm vụ ngày càng lớn và tính chất ngày càng phức tạp, trong khi nguồn lực về nhân lực, kinh phí, thời gian và các điều kiện tổ chức thực hiện luôn có giới hạn, đặt ra yêu cầu phải lựa chọn đúng nhiệm vụ, xác định rõ thứ tự ưu tiên và tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Điều đó cho thấy chất lượng xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học có ý nghĩa ngày càng quan trọng trong việc bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng hoạt động khoa học của Học viện.

1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học

1.1. Khái niệm và một số nội dung cơ bản của xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học

Kế hoạch là một khái niệm cơ bản của khoa học quản lý. Theo Từ điển tiếng Việt, kế hoạch là “toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu, cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành”[3]. Trong Giáo trình Quản lý học, kế hoạch được xác định là “tổng thể các mục tiêu, các nhiệm vụ cũng như các giải pháp và nguồn lực mà tổ chức có thể sử dụng để đạt được mục tiêu của tổ chức”[4]. Hai cách tiếp cận trên cho thấy kế hoạch không chỉ trả lời câu hỏi sẽ thực hiện những công việc gì mà còn xác định mục tiêu, cách thức, thời gian và nguồn lực để tổ chức thực hiện.

Hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học bao gồm nhiều loại hình như nghiên cứu đề tài, tổ chức hội thảo, tọa đàm, công bố khoa học, xây dựng giáo trình và học liệu, nghiên cứu khoa học sinh viên, tư vấn chính sách và các hoạt động nghiên cứu, quản lý khoa học khác. Trên cơ sở đó, kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học có thể được hiểu là hệ thống các mục tiêu, nhiệm vụ và hoạt động khoa học dự kiến thực hiện trong một thời kỳ nhất định, trong đó xác định những nội dung cơ bản về nhiệm vụ, sản phẩm, chủ thể thực hiện, tiến độ, nguồn lực và các điều kiện cần thiết.

Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học không chỉ là việc lập và ban hành một danh mục nhiệm vụ. Đây là quá trình các chủ thể có thẩm quyền xác định căn cứ, mục tiêu và định hướng; tổ chức đề xuất, tổng hợp, rà soát và lựa chọn nhiệm vụ; xác định sản phẩm, sắp xếp thứ tự ưu tiên, cân đối nguồn lực và tiến độ để hình thành một kế hoạch thống nhất, làm căn cứ tổ chức hoạt động khoa học trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, chất lượng xây dựng kế hoạch cần được xem xét từ cả quá trình hình thành kế hoạch và nội dung của kế hoạch được tạo ra, chứ không chỉ nghiên cứu thuần túy trên bản kế hoạch sau khi được ban hành.

Quá trình xây dựng kế hoạch thường có sự tham gia của nhiều chủ thể. Trong đó, lãnh đạo cơ sở giáo dục giữ vai trò định hướng và quyết định; đơn vị quản lý khoa học là đầu mối tham mưu, tổng hợp và tổ chức quy trình; các khoa, viện và đơn vị chuyên môn đề xuất nhiệm vụ từ nhu cầu nghiên cứu và đào tạo; các đơn vị tài chính, đào tạo và chức năng liên quan tham gia cung cấp thông tin, cân đối nguồn lực; các nhà khoa học, giảng viên và người học là những chủ thể trực tiếp đề xuất và thực hiện nhiệm vụ. Tùy mô hình quản trị, nguồn kinh phí và cơ chế phân cấp, mức độ tham gia của từng chủ thể có thể khác nhau.

Về quy trình, xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học thường được triển khai qua một số khâu cơ bản: xác định căn cứ, định hướng và mục tiêu; tổ chức đề xuất nhiệm vụ; tổng hợp, phân loại và rà soát; tư vấn, lựa chọn nhiệm vụ; cân đối nguồn lực; hoàn thiện, phê duyệt và ban hành kế hoạch. Nội dung của kế hoạch vì vậy thường bao gồm các thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau như mục tiêu, nhiệm vụ, cơ cấu và thứ tự ưu tiên, sản phẩm dự kiến, chủ thể thực hiện, thời gian, kinh phí và các điều kiện tổ chức thực hiện.

2. Một số yêu cầu đối với xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học trong bối cảnh mới

Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học không đơn thuần là việc lập danh mục các nhiệm vụ dự kiến triển khai trong một năm hay một giai đoạn. Về bản chất, đây là quá trình xác định căn cứ và định hướng; lựa chọn, sắp xếp các nhiệm vụ; xác định sản phẩm, nguồn lực, tiến độ và các điều kiện thực hiện để hình thành một kế hoạch thống nhất. Chất lượng của kế hoạch vì vậy cần được xem xét không chỉ ở mức độ đầy đủ về thủ tục mà chủ yếu ở khả năng định hướng, lựa chọn và tổ chức nguồn lực cho hoạt động khoa học.

Từ góc độ đó, có thể xác định một số yêu cầu cơ bản sau:

Một là, kế hoạch hoạt động khoa học phải bảo đảm tính định hướng và phù hợp với chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục đại học. Kế hoạch khoa học cần được hình thành trên cơ sở các chủ trương, chính sách về khoa học, công nghệ và giáo dục đại học; định hướng của cơ quan quản lý cấp trên; sứ mệnh, chiến lược phát triển, chức năng và nhiệm vụ của nhà trường. Những định hướng chung này cần được chuyển hóa thành các lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên, nhóm nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể. Vì vậy, chất lượng kế hoạch không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng nhiệm vụ được đưa vào danh mục mà trước hết phải xem xét kế hoạch có phản ánh đúng những vấn đề nhà trường cần tập trung nghiên cứu trong từng thời kỳ hay không. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong điều kiện nhu cầu và yêu cầu nghiên cứu khoa học ngày càng đa dạng. Bên cạnh những nhiệm vụ thường xuyên phục vụ đào tạo và phát triển học liệu, các cơ sở giáo dục đại học còn phải tham gia giải quyết những vấn đề mới từ thực tiễn, thực hiện nhiệm vụ do cơ quan cấp trên giao, nghiên cứu chiến lược, tư vấn và phản biện chính sách. Nếu kế hoạch chỉ được hình thành từ việc cộng gộp cơ học đề xuất của các đơn vị và cá nhân mà thiếu bước xác định trọng tâm chung thì rất dễ dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực và khó hình thành những hướng nghiên cứu có tính dài hạn.

Hai là, nội dung của kế hoạch phải bảo đảm tính khoa học, hợp lý và có sự liên kết giữa mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm và tiến độ. Các thành tố của kế hoạch không tồn tại riêng lẻ mà cần được thiết kế trong một chỉnh thể thống nhất. Mục tiêu phải được cụ thể hóa bằng nhiệm vụ; nhiệm vụ phải tạo ra những sản phẩm phù hợp; quy mô và tiến độ phải tương thích với tính chất của nghiên cứu. Đồng thời, cơ cấu nhiệm vụ cần phù hợp với thế mạnh chuyên môn, yêu cầu đào tạo và nhu cầu phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học. Bên cạnh đó, bảo đảm tính kế thừa cần phải đi đối với hạn chế trùng lặp giữa các nhiệm vụ. Đối với những hướng nghiên cứu hoặc sản phẩm được phát triển qua nhiều giai đoạn, kế hoạch năm sau cần tính đến kết quả và trạng thái của các nhiệm vụ năm trước. Việc mở mới nhiệm vụ phải dựa trên nhu cầu thực tế và giá trị bổ sung của nghiên cứu, tránh tình trạng cùng một vấn đề được triển khai nhiều lần với những thay đổi không đáng kể về tên gọi, đối tượng hoặc phạm vi.

Ba là, kế hoạch phải bảo đảm tính khả thi và sự tương thích giữa nhiệm vụ với nguồn lực thực hiện. Nguồn lực dành cho khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học luôn có giới hạn trong khi nhu cầu nghiên cứu ngày càng lớn. Do đó, quá trình xây dựng kế hoạch phải đồng thời xem xét năng lực của đội ngũ, nguồn kinh phí, thời gian thực hiện, điều kiện cơ sở vật chất và khả năng phối hợp giữa các đơn vị. Một kế hoạch xác định quá nhiều nhiệm vụ nhưng không đủ nguồn lực để thực hiện hoặc phân bổ nguồn lực quá dàn trải sẽ khó tạo ra sản phẩm có chất lượng. Từ yêu cầu này, việc xác định thứ tự ưu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không phải mọi nhiệm vụ đều cần được đầu tư ở cùng một mức độ. Những nhiệm vụ có tính chiến lược, có phạm vi tác động lớn, gắn với thế mạnh của cơ sở đào tạo hoặc có yêu cầu cao về sản phẩm cần được phân biệt với các nhiệm vụ thường xuyên. Phân tầng nhiệm vụ và mức đầu tư tương ứng sẽ giúp dung hòa giữa việc mở rộng sự tham gia nghiên cứu với yêu cầu tập trung nguồn lực cho những vấn đề thực sự quan trọng.

Bốn là, quy trình xây dựng kế hoạch phải rõ ràng, có sự phối hợp giữa các chủ thể và ngày càng dựa nhiều hơn trên thông tin, dữ liệu. Một kế hoạch có chất lượng không chỉ phụ thuộc vào nội dung cuối cùng mà còn phụ thuộc vào cách thức nó được hình thành. Quy trình cần bao gồm các bước từ xác định định hướng, tổ chức đề xuất, tổng hợp, rà soát, tư vấn và lựa chọn nhiệm vụ, cân đối nguồn lực đến phê duyệt và ban hành. Tùy theo mô hình tổ chức, cơ chế phân cấp, nguồn kinh phí và loại hình nhiệm vụ, quy trình của mỗi cơ sở giáo dục đại học có thể khác nhau; tuy nhiên, trách nhiệm của từng chủ thể và mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị cần được xác định rõ. Cùng với đó, dữ liệu về nhiệm vụ đã thực hiện, sản phẩm khoa học, tiến độ, kết quả nghiệm thu, năng lực của chủ nhiệm và đơn vị nghiên cứu cần ngày càng trở thành căn cứ quan trọng của việc xây dựng kế hoạch. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và có khả năng liên kết, cơ sở giáo dục có thể sử dụng để kiểm tra trùng lặp, theo dõi tính kế thừa, nhận diện lĩnh vực còn thiếu nghiên cứu, đánh giá năng lực thực hiện và hỗ trợ phân bổ nguồn lực. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với xu hướng quản trị đại học dựa trên dữ liệu hiện nay.

3. Thực tiễn xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trong giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống kế hoạch hoạt động khoa học của Học viện được tổ chức tương đối đa dạng về cấp độ, loại hình nhiệm vụ và nguồn kinh phí. Xét riêng hệ thống đề tài, có thể phân thành bốn nhóm cơ bản: đề tài cấp Bộ; đề tài cấp cơ sở trọng điểm hoặc phân cấp sử dụng kinh phí của HVCTQGHCM; đề tài cấp cơ sở sử dụng kinh phí của Học viện; và đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên.

Bảng 1. Số lượng đề tài khoa học theo cấp độ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền giai đoạn 2021 - 2025

Năm

Đề tài cấp Bộ (mở mới)

Đề tài cấp cơ sở trọng điểm

Đề tài cấp cơ sở

Đề tài sinh viên

2021

3

18

118

39

2022

3

20

113

90

2023

3

20

97

52

2024

4

15

87

76

2025

4

18

97

55

Tổng

17

91

512

312

(Nguồn: Tổng hợp từ Kế hoạch hoạt động khoa học giai đoạn 2021 - 2025 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Số liệu cho thấy quy mô nhiệm vụ khoa học của Học viện tương đối lớn, trong đó nhóm đề tài cấp cơ sở sử dụng kinh phí của Học viện chiếm số lượng nhiều nhất. Riêng trong 5 năm, có 512 đề tài cấp cơ sở và 312 đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên được đưa vào kế hoạch. Đối với đề tài cấp Bộ, số liệu trên chỉ tính nhiệm vụ mở mới từng năm; do thời gian thực hiện thường kéo dài khoảng hai năm nên trong cùng một năm còn có các nhiệm vụ chuyển tiếp từ năm trước.

Về nội dung, hệ thống nhiệm vụ khoa học cơ bản bám sát chức năng, nhiệm vụ và thế mạnh của Học viện. Các đề tài cấp Bộ thường tập trung vào những vấn đề lớn như công tác tư tưởng, tuyên truyền, báo chí - truyền thông, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, truyền thông chính trị, chuyển đổi số trong giáo dục và quản trị đại học, các vấn đề chính trị - xã hội khác... Các đề tài cấp cơ sở trọng điểm bao quát những lĩnh vực như lý luận chính trị, xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, quản lý nhà nước, báo chí, xuất bản, truyền thông, quan hệ quốc tế và các vấn đề khoa học xã hội, nhân văn. Trong khi đó, nhóm đề tài cấp cơ sở sử dụng kinh phí của Học viện đa phần phục vụ nhu cầu phát triển giáo trình, học liệu, tài liệu tham khảo, đồng thời có nghiên cứu phục vụ trực tiếp công tác quản lý, quản trị và phát triển Học viện.

Đặc điểm này thể hiện rõ qua cơ cấu sản phẩm của nhóm đề tài cấp cơ sở. Trong tổng số 512 đề tài giai đoạn 2021 - 2025, có 390 nhiệm vụ liên quan đến định hướng hoặc biên soạn giáo trình, chiếm 76,2%; 73 nhiệm vụ hướng tới tài liệu tham khảo, chiếm 14,3%; và 43 đề tài được giao nhiệm vụ theo yêu cầu cụ thể, chiếm 8,4%.

Bảng 2. Cơ cấu một số nhóm nhiệm vụ cấp cơ sở giai đoạn 2021 - 2025

Nhóm nhiệm vụ

Số lượng

Tỷ lệ

Định hướng, biên soạn giáo trình

390

76,2%

Tài liệu tham khảo

73

14,3%

Đề tài giao nhiệm vụ

43

8,4%

(Nguồn: Tổng hợp từ Kế hoạch hoạt động khoa học hằng năm của Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Cơ cấu trên cho thấy công tác xây dựng kế hoạch khoa học của Học viện có sự gắn kết khá rõ với nhiệm vụ đào tạo và phát triển học liệu. Đây là đặc điểm phù hợp với chức năng của một cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, khi đặt trong yêu cầu ngày càng tăng về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu chiến lược và tư vấn chính sách, cơ cấu nhiệm vụ cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cân đối giữa các nhiệm vụ phục vụ trực tiếp đào tạo với các nghiên cứu có tính chuyên sâu và khả năng tạo tác động rộng hơn.

Về quy trình, công tác xây dựng kế hoạch đã từng bước đi vào nền nếp. Các đơn vị tổ chức đề xuất nhiệm vụ, cơ quan quản lý khoa học (Ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế) tiếp nhận, tổng hợp, rà soát và tham mưu tổ chức tư vấn; tùy theo nguồn kinh phí và cấp quản lý, hồ sơ được trình HVCTQGHCM hoặc cấp có thẩm quyền của Học viện xem xét, phê duyệt và giao thực hiện. Quy trình này về cơ bản đã hình thành các bước từ đề xuất, rà soát, tư vấn đến phê duyệt, đồng thời tạo cơ sở để phân biệt nhiệm vụ theo cấp độ và nguồn kinh phí.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn giai đoạn 2021 - 2025 cũng cho thấy một số vấn đề đáng lưu ý.

Thứ nhất, việc xây dựng kế hoạch trong nhiều trường hợp vẫn mang khá rõ đặc điểm của quá trình tổng hợp các đề xuất đăng ký từ đơn vị và cá nhân. Việc xác định trước các vấn đề nghiên cứu trọng tâm, rà soát kết quả chu kỳ trước, nhận diện khoảng trống nghiên cứu và những nhiệm vụ cần tiếp tục đầu tư chưa thật sự trở thành một khâu nổi bật trước mỗi kỳ xây dựng kế hoạch.

Thứ hai, trong điều kiện số lượng nhiệm vụ lớn và nguồn lực có giới hạn, việc phân bổ nguồn lực đặt ra yêu cầu phải xử lý hài hòa giữa mở rộng sự tham gia nghiên cứu với tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm. Việc duy trì số lượng lớn nhiệm vụ cấp cơ sở và nghiên cứu sinh viên có ý nghĩa đối với phát triển môi trường nghiên cứu, nhưng nếu phân bổ quá rộng sẽ làm giảm khả năng tập trung nguồn lực cho những vấn đề có giá trị chiến lược hoặc yêu cầu sản phẩm cao. Đây là một trong những mâu thuẫn nổi bật được nhận diện từ thực tiễn của Học viện.

Thứ ba, tính kế thừa và khả năng kiểm soát trùng lặp giữa các nhiệm vụ vẫn cần được tăng cường. Với các nhiệm vụ phát triển giáo trình và học liệu, kế hoạch của năm sau cần theo dõi đầy đủ trạng thái của các khâu trước đó để bảo đảm tính liên tục. Đối với đề tài chuyên môn và nghiên cứu khoa học sinh viên, việc kiểm soát tính mới không nên chỉ dựa vào tên đề tài mà cần xem xét cả đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu.

Thứ tư, chất lượng dữ liệu phục vụ xây dựng kế hoạch đã có bước chuyển từ quản lý phân tán sang tập trung và số hóa hơn, nhưng khả năng khai thác dữ liệu như một công cụ hỗ trợ trực tiếp cho lựa chọn nhiệm vụ, kiểm tra trùng lặp, đánh giá năng lực chủ nhiệm và xác định mức độ ưu tiên vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là có dữ liệu, mà quan trọng hơn là phải sử dụng dữ liệu như một căn cứ thực chất trong quá trình xây dựng kế hoạch.

Từ thực tiễn tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền có thể thấy, vấn đề cốt lõi của nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch không nằm ở việc gia tăng số lượng nhiệm vụ, mà ở khả năng chuyển từ cách tiếp cận thiên về tổng hợp đăng ký sang cách tiếp cận chủ động hơn trong xác định ưu tiên, lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực và sử dụng dữ liệu hỗ trợ ra quyết định. Đây cũng là những vấn đề có ý nghĩa tham khảo đối với các cơ sở giáo dục đại học có hệ thống nhiệm vụ khoa học đa dạng và nguồn lực hữu hạn.

4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học ở cơ sở giáo dục đại học

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò của xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học.

Trọng tâm là chuyển nhận thức từ việc coi xây dựng kế hoạch chủ yếu là tổng hợp đăng ký, hoàn thiện danh mục nhiệm vụ sang coi đây là một công cụ quản trị, có chức năng định hướng nghiên cứu, lựa chọn ưu tiên và phân bổ nguồn lực. Nhận thức này cần được thống nhất từ lãnh đạo cơ sở giáo dục, đơn vị quản lý khoa học đến các khoa, viện và nhà khoa học. Khi đó, đăng ký nhiệm vụ không chỉ xuất phát từ nhu cầu riêng của cá nhân hoặc đơn vị mà phải được đặt trong mối quan hệ với chiến lược phát triển, thế mạnh nghiên cứu, yêu cầu đào tạo và những vấn đề thực tiễn cần ưu tiên giải quyết.

Hai là, hoàn thiện cơ chế và quy trình xây dựng kế hoạch theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm và bảo đảm tính kế thừa.

Trước mỗi chu kỳ xây dựng kế hoạch cần có bước rà soát kết quả của năm trước, các nhiệm vụ đang thực hiện, nhu cầu đào tạo, khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề mới phát sinh; từ đó xác định một số định hướng ưu tiên trước khi tổ chức đăng ký. Trên cơ sở các đề xuất, cần thực hiện đồng bộ các khâu tổng hợp, phân loại, rà soát, tư vấn, lựa chọn, cân đối nguồn lực và phê duyệt.

Cơ chế lựa chọn cần phân biệt rõ giữa các cấp và loại nhiệm vụ. Đối với những cơ sở có hệ thống nhiệm vụ đa dạng như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nhiệm vụ cấp Bộ, cấp cơ sở trọng điểm hoặc phân cấp cần ưu tiên những vấn đề có phạm vi rộng, giá trị lý luận và thực tiễn cao; nhiệm vụ cấp cơ sở cần gắn với chuyên môn, đào tạo và phát triển học liệu; nghiên cứu khoa học sinh viên cần phù hợp với ngành đào tạo và năng lực người học. Mức đầu tư và yêu cầu sản phẩm cũng cần được phân hóa tương ứng.

Quy trình đồng thời phải tăng cường kiểm soát tính mới, tính kế thừa và khả năng trùng lặp. Đối với những nhiệm vụ nghiên cứu theo chuỗi (ví dụ như các đề tài giáo trình, đề tài được thực hiện trong nhiều năm), cần xác định chính xác trạng thái của nhiệm vụ trước khi mở mới, khả năng và điều kiện tham gia nhiệm vụ mới của các nhà khoa học khi vẫn đang trong các nhiệm vụ đang triển khai; đối với đề tài nghiên cứu, việc rà soát không chỉ dựa vào tên mà phải đối chiếu cả đối tượng, phạm vi, nội dung và sản phẩm. Kết quả thực hiện nhiệm vụ trước đó của chủ nhiệm và đơn vị cũng cần trở thành một căn cứ khi xem xét giao nhiệm vụ mới.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ và tăng cường phối hợp giữa các chủ thể tham gia xây dựng kế hoạch.

Chất lượng kế hoạch phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của cán bộ tham mưu, cán bộ quản lý khoa học, lãnh đạo đơn vị và người đề xuất nhiệm vụ. Vì vậy, cần tăng cường hướng dẫn về xây dựng thuyết minh, xác định sản phẩm, lập dự toán, đánh giá tính khả thi và xác lập ưu tiên nghiên cứu. Các khoa, viện cần thực hiện tốt khâu rà soát nội bộ, không đơn thuần chuyển toàn bộ đăng ký lên cơ quan quản lý cấp trường.

Đồng thời, cần duy trì sự phối hợp thường xuyên giữa đơn vị quản lý khoa học với bộ phận đào tạo, tài chính, công nghệ thông tin và các đơn vị chuyên môn. Sự phối hợp này giúp bảo đảm nhu cầu nghiên cứu phù hợp với chương trình đào tạo, số lượng nhiệm vụ phù hợp với khả năng tài chính và dữ liệu cần thiết được cung cấp đầy đủ ngay từ giai đoạn xây dựng kế hoạch.

Bốn là, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và tăng cường ứng dụng công nghệ trong xây dựng kế hoạch.

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về nhiệm vụ, chủ nhiệm, thành viên, sản phẩm, tiến độ, kết quả nghiệm thu và công bố khoa học, bảo đảm có thể liên kết và khai thác phục vụ ra quyết định. Dữ liệu cần hỗ trợ trực tiếp việc kiểm tra trùng lặp, theo dõi tính kế thừa, đánh giá năng lực thực hiện, nhận diện lĩnh vực còn thiếu nghiên cứu và xác định mức độ ưu tiên.

Đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hệ thống Học viện thông minh nên được tiếp tục phát triển thành nền tảng chính phục vụ quản lý dữ liệu khoa học và hỗ trợ xây dựng kế hoạch, ưu tiên kết nối thông tin giữa nhiệm vụ, sản phẩm và hồ sơ khoa học của cán bộ, giảng viên; tra cứu lịch sử nhiệm vụ và tổng hợp dữ liệu phục vụ kỳ lập kế hoạch hằng năm. Việc phát triển nên theo hướng nâng cấp hệ thống hiện có, hạn chế hình thành thêm các phần mềm riêng lẻ, phân tán.

Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá lại chất lượng công tác xây dựng kế hoạch.

Cần hình thành việc rà soát định kỳ không chỉ đối với tiến độ thực hiện nhiệm vụ mà cả đối với chất lượng của chính kế hoạch đã được xây dựng. Sau mỗi chu kỳ, cơ sở giáo dục cần xem xét mức độ thực hiện các định hướng ưu tiên; mức độ phù hợp giữa số lượng nhiệm vụ và nguồn lực; tỷ lệ nhiệm vụ phải điều chỉnh, kéo dài hoặc không hoàn thành; mức độ hình thành sản phẩm theo dự kiến; cũng như những bất cập phát sinh trong quy trình đề xuất, lựa chọn và phân bổ nguồn lực.

Kết quả kiểm tra, giám sát không nhằm đánh giá lại toàn bộ chất lượng nghiên cứu, mà cần được sử dụng như một vòng phản hồi cho chu kỳ lập kế hoạch tiếp theo. Những lĩnh vực đã được đầu tư nhiều, những nhiệm vụ còn tồn đọng, các chủ nhiệm thường xuyên chậm tiến độ hoặc những loại hình nhiệm vụ tạo ra kết quả tốt cần được nhận diện để điều chỉnh cơ cấu kế hoạch năm sau. Như vậy, xây dựng kế hoạch sẽ hình thành một chu trình lập kế hoạch - tổ chức thực hiện - theo dõi, đánh giá - phản hồi cho kế hoạch mới, thay vì mỗi năm bắt đầu lại gần như từ đầu.

Kết luận

Xây dựng kế hoạch hoạt động khoa học là một khâu có ý nghĩa nền tảng trong quản lý khoa học ở cơ sở giáo dục đại học. Chất lượng của kế hoạch không chỉ phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ các nhiệm vụ dự kiến thực hiện mà còn ở khả năng chuyển hóa định hướng phát triển thành những ưu tiên nghiên cứu cụ thể, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp, cân đối nguồn lực và tạo lập sự liên kết giữa mục tiêu, sản phẩm và điều kiện thực hiện. Trong bối cảnh yêu cầu đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị đại học ngày càng cao, công tác xây dựng kế hoạch cần được tiếp cận theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm và dựa nhiều hơn trên dữ liệu. Điều đó đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ nhận thức, cơ chế tổ chức, năng lực của các chủ thể đến hạ tầng công nghệ và cơ chế kiểm tra, phản hồi.

Thực tiễn Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho thấy việc nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch không chỉ có ý nghĩa đối với hiệu quả quản lý khoa học của một cơ sở cụ thể mà còn gợi mở những vấn đề chung đối với các cơ sở giáo dục đại học trong điều kiện nguồn lực có hạn nhưng yêu cầu nghiên cứu ngày càng đa dạng và phức tạp. Một hệ thống kế hoạch được xây dựng khoa học, linh hoạt và có khả năng thích ứng sẽ là tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy thế mạnh nghiên cứu và nâng cao chất lượng hoạt động khoa học trong giai đoạn mới.

ThS. Phạm Ngọc Thúy Hằng - ThS. Lê Tùng Lâm

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

2. Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Nghị quyết số 44-NQ/ĐU ngày 11/7/2024 về tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tham mưu tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước trong tình hình mới.

3. Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 485.

4. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (đồng chủ biên) (2012), Giáo trình Quản lý học, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 329-330.

5. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2021 - 2025), Kế hoạch hoạt động khoa học các năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 2025, Hà Nội.

[1] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[2] Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Nghị quyết số 44-NQ/ĐU ngày 11/7/2024 về tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, tham mưu tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước trong tình hình mới; Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026), Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2026.

[3] Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr. 485.

[4] Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (đồng chủ biên) (2012), Giáo trình Quản lý học, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 329-330.

  • Tags: