Nâng cao quản lý sử dụng đất nông nghiệp và bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất từ thực tiễn xã Đông Anh (Hà Nội).
Quản lý đất đai hiệu quả đòi hỏi sự thống nhất giữa hồ sơ pháp lý, hiện trạng sử dụng đất và trách nhiệm giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực tiễn quản lý đất nông nghiệp cho thấy, những bất cập trong xác định ranh giới thửa đất, kiểm soát phạm vi sử dụng đất được giao hoặc cho thuê và tiếp nhận, xử lý phản ánh của người dân có thể làm phát sinh nguy cơ tranh chấp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Từ thực trạng liên quan đến diện tích đất nông nghiệp tại khu vực thôn Vạn Lộc, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội, bài viết phân tích những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, giám sát và giải quyết kiến nghị về đất đai; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm việc sử dụng đất đúng quy định pháp luật.
Đất đai là nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm sinh kế của người dân và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên. Đối với Việt Nam, đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất chủ yếu của một bộ phận dân cư mà còn có vai trò trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống nông thôn và duy trì cân bằng sinh thái. Vì vậy, quản lý, khai thác và sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả là yêu cầu có ý nghĩa lâu dài đối với phát triển bền vững. Trong điều kiện quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng, công tác quản lý đất nông nghiệp đứng trước nhiều yêu cầu mới. Bên cạnh nhiệm vụ lập, quản lý và cập nhật hồ sơ địa chính, cơ quan nhà nước còn phải thường xuyên kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, xác định rõ ranh giới giữa các thửa đất, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, đồng thời xử lý kịp thời những dấu hiệu vi phạm. Hiệu quả quản lý vì thế không thể chỉ được đánh giá thông qua sự đầy đủ của hồ sơ hành chính mà còn phải thể hiện ở khả năng kiểm soát thực tế và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.
Một trong những vấn đề thường gặp trong quản lý đất nông nghiệp là sự khác biệt giữa thông tin trong hồ sơ và hiện trạng ngoài thực địa. Những thay đổi như dựng hàng rào, trồng cây, đào ao hoặc tổ chức hoạt động sản xuất trên diện tích đất tiếp giáp có thể dẫn đến bất đồng về ranh giới, phạm vi sử dụng đất. Nếu không được kiểm tra, xác minh kịp thời, những bất đồng này có thể phát triển thành tranh chấp kéo dài, làm phát sinh chi phí xã hội và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với cơ quan quản lý. Trong thực tiễn, những bất đồng liên quan đến đất nông nghiệp không chỉ xuất phát từ câu hỏi ai đang trực tiếp sử dụng đất mà còn liên quan đến nguồn gốc đất, căn cứ xác lập quyền sử dụng, phạm vi được giao hoặc cho thuê và trách nhiệm của cơ quan quản lý. Do đó, việc giải quyết phản ánh cần dựa trên chứng cứ khách quan, kết quả xác minh và quy định pháp luật, thay vì chỉ căn cứ vào hiện trạng hoặc lời trình bày của một bên.
Trường hợp được phản ánh tại khu vực Xứ đồng chân đê, thôn Vạn Lộc, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội, liên quan đến diện tích đất nông nghiệp mà một hộ gia đình cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình, đặt ra yêu cầu xem xét đồng thời ba phương diện: căn cứ pháp lý xác lập quyền sử dụng đất; sự phù hợp giữa ranh giới trên hồ sơ và hiện trạng thực tế; trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận, xác minh và phản hồi kiến nghị. Đây không chỉ là vấn đề của một vụ việc cụ thể mà còn gợi mở những yêu cầu có tính hệ thống đối với công tác quản lý đất nông nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu trường hợp này cần kết hợp phân tích quy định pháp luật với đánh giá những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn quản lý, đồng thời bảo đảm nguyên tắc khách quan, không mặc nhiên coi nội dung phản ánh ban đầu là kết luận về hành vi vi phạm.
Luật Đất đai số 31/2024/QH15 là cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh việc quản lý, sử dụng đất và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Theo khoản 5 Điều 26 của Luật này, người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình. Đồng thời, khoản 1 Điều 31 quy định nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất và tuân thủ những quy định pháp luật có liên quan. Các quy định trên thể hiện hai yêu cầu có quan hệ chặt chẽ. Một mặt, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Mặt khác, mỗi tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải thực hiện quyền sử dụng đất trong phạm vi, giới hạn pháp luật cho phép, không được tùy tiện sử dụng diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chủ thể khác. Việc xác định ranh giới thửa đất vì thế là điều kiện quan trọng để thực hiện cả quyền được bảo hộ lẫn nghĩa vụ sử dụng đất đúng quy định.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định một diện tích đất có thuộc quyền sử dụng hợp pháp của một hộ gia đình hay không cần căn cứ vào tổng thể hồ sơ, tài liệu và quy định pháp luật áp dụng đối với từng trường hợp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính, bản đồ qua các thời kỳ, tài liệu về giao đất, cho thuê đất, đăng ký đất đai và các giấy tờ hợp pháp khác có thể cung cấp những căn cứ cần thiết để làm rõ nguồn gốc, quá trình sử dụng và phạm vi quyền sử dụng đất. Khi hồ sơ chưa thống nhất hoặc ranh giới ngoài thực địa không rõ ràng, việc đo đạc, kiểm tra và đối chiếu kỹ thuật là cần thiết trước khi đưa ra kết luận. Đối với diện tích đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, phạm vi sử dụng phải được xác định trên cơ sở quyết định của cơ quan có thẩm quyền, hợp đồng thuê đất nếu thuộc trường hợp phải ký hợp đồng, hồ sơ địa chính và tài liệu bàn giao đất trên thực địa theo quy định. Việc một tổ chức được phép sử dụng một khu đất không đồng nghĩa với việc tổ chức đó được mở rộng phạm vi sử dụng sang diện tích liền kề. Ngược lại, việc xuất hiện hàng rào, cây trồng hoặc ao trên một diện tích đất cũng chưa đủ để khẳng định có hành vi lấn, chiếm đất nếu chưa xác định được ranh giới hợp pháp và căn cứ sử dụng đất của các bên.
Bên cạnh đó, Điều 235 Luật Đất đai năm 2024 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai, trong đó có trình tự hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định. Điều 236 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Việc áp dụng các quy định này cần căn cứ vào bản chất vụ việc, tình trạng pháp lý của thửa đất, giấy tờ mà các bên có và pháp luật hiện hành tại thời điểm giải quyết. Cần phân biệt giữa phản ánh về dấu hiệu vi phạm hành chính trong sử dụng đất với tranh chấp về quyền sử dụng đất. Nếu có dấu hiệu sử dụng đất vượt phạm vi được giao, được thuê hoặc lấn, chiếm đất, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét kiểm tra, lập hồ sơ và xử lý theo trình tự pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Nếu các bên có bất đồng về quyền sử dụng đất hoặc ranh giới thửa đất, việc giải quyết cần tuân thủ trình tự, thủ tục tương ứng. Trong một số trường hợp, hai vấn đề này có thể đồng thời xuất hiện, đòi hỏi cơ quan chức năng xác định rõ từng nội dung để tránh nhầm lẫn giữa xử lý vi phạm hành chính và giải quyết tranh chấp.
.jpg)
Đơn phản ánh của ông Nguyễn Tuấn Dũng về việc sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực thôn Vạn Lộc.
Theo tài liệu được cung cấp từ một trường hợp điển hình là ông Nguyễn Tuấn Dũng gia đình có khoảng 2.400 m² đất canh tác nông nghiệp tại khu vực Xứ đồng chân đê, thôn Vạn Lộc, xã Xuân Canh trước đây, nay thuộc xã Đông Anh, thành phố Hà Nội. Theo tài liệu ccung cấp trong khoảng hai năm, trên khu vực đất có xuất hiện hàng rào thép, cây trồng và ao thả cá. Ông Dũng cho rằng một phần diện tích mà gia đình có quyền sử dụng đã bị sử dụng khi chưa có sự đồng ý của gia đình.
.jpg)
Ao nước trong khu vực đất của người dân cung cấp.

Hiện trạng khu đất có hàng rào, cây trồng và thảm thực vật tại khu vực của người dân cung cấp.
Theo tài liệu được cung cấp, Tập đoàn Trường Xuân có thuê một khu đất liền kề của chính quyền địa phương để trồng cây. Từ đó, người dân đề nghị cơ quan chức năng kiểm tra, làm rõ ranh giới giữa diện tích đất gia đình và diện tích đất doanh nghiệp được thuê, đồng thời xác định trách nhiệm của các bên nếu có căn cứ cho thấy việc sử dụng đất vượt phạm vi được phép.
.jpg)
Vườn Trường Xuân tại khu vực người dân cung .
Khi cung cấp tài liệu tới UBND xã Đông Anh để nắm bắt thông tin liên quan đến nguồn gốc đất, hồ sơ cho thuê đất và quá trình xử lý của chính quyền địa phương nhưng chưa nhận được phản hồi chính thức tại thời điểm ghi nhận thông tin. Tuy nhiên, dữ liệu hiện có chưa đủ để xác định đầy đủ tình trạng tiếp nhận, xử lý nội bộ của cơ quan quản lý, cũng như việc cơ quan này đã tiến hành kiểm tra thực địa hoặc thực hiện các bước xác minh khác hay chưa. Vì vậy, cần tiếp tục thu thập thông tin từ các bên liên quan và cơ quan có thẩm quyền trước khi đưa ra đánh giá cuối cùng. Những thông tin nêu trên cần được xem là phản ánh ban đầu, chưa phải kết luận về hành vi vi phạm của doanh nghiệp hoặc trách nhiệm của cơ quan quản lý.
Từ tình huống trên, vấn đề đầu tiên cần làm rõ là nguồn gốc và tình trạng pháp lý của diện tích đất được phản ánh. Con số khoảng 2.400 m² do người dân cung cấp cần được đối chiếu với giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính và các tài liệu liên quan. Cần xác định cụ thể số thửa, tờ bản đồ, vị trí, diện tích, loại đất, thời điểm xác lập quyền sử dụng và quá trình biến động nếu có. Trường hợp giấy tờ của hộ gia đình chưa thể hiện đầy đủ ranh giới hoặc có sự khác biệt giữa các tài liệu qua các thời kỳ, cơ quan chuyên môn cần kiểm tra nguồn gốc và giá trị pháp lý của từng tài liệu để xác định phạm vi quyền sử dụng đất. Vấn đề thứ hai là phạm vi khu đất doanh nghiệp được phép sử dụng. Đối với diện tích đất được cho thuê, cần làm rõ quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê đất trong trường hợp pháp luật quy định, sơ đồ vị trí, diện tích, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng và hồ sơ bàn giao đất trên thực địa. Các tài liệu này phải được đối chiếu với vị trí hàng rào, cây trồng và ao được phản ánh. Nếu phát hiện có sự chồng lấn giữa phạm vi thuê đất và diện tích đất hộ gia đình đang sử dụng hợp pháp, cần xác định nguyên nhân, thời điểm phát sinh và trách nhiệm của các chủ thể có liên quan.
Vấn đề thứ ba là hiện trạng sử dụng đất và khả năng phát sinh tác động đến mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Việc dựng hàng rào, trồng cây và đào ao cần được xem xét trong mối quan hệ với mục đích sử dụng đất đã được xác định, phạm vi quyền sử dụng của chủ thể thực hiện và các điều kiện pháp luật có liên quan. Không phải mọi hoạt động trồng cây hoặc đào ao trên đất nông nghiệp đều mặc nhiên là vi phạm; việc đánh giá phải căn cứ vào loại đất, mục đích sử dụng, quy định về chuyển mục đích sử dụng đất và các điều kiện cụ thể. Nếu có hoạt động làm thay đổi hiện trạng, ranh giới hoặc mục đích sử dụng đất trái quy định, cơ quan chức năng cần xác định đúng hành vi và căn cứ pháp lý để xử lý. Vấn đề thứ tư liên quan đến trách nhiệm tiếp nhận và phản hồi kiến nghị của người dân. Trong quản lý nhà nước về đất đai, việc tiếp nhận phản ánh là một khâu quan trọng của cơ chế giám sát xã hội. Tuy nhiên, để đánh giá trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong một trường hợp cụ thể, cần xác minh thời điểm tiếp nhận, hình thức gửi kiến nghị, nội dung yêu cầu, cơ quan được giao xử lý và các bước đã thực hiện. Việc chưa có thông tin phản hồi chính thức tại thời điểm ghi nhận của phóng viên chưa đủ để kết luận rằng cơ quan quản lý không xử lý vụ việc. Dù vậy, tình huống này cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì cơ chế tiếp nhận, theo dõi và phản hồi rõ ràng, giúp người dân biết kiến nghị của mình đang được giải quyết ở giai đoạn nào.
Từ góc độ nghiên cứu tình huống, những nội dung trên cho thấy việc giải quyết phản ánh về đất nông nghiệp cần được tiến hành trên cơ sở chứng cứ khách quan, có sự phối hợp giữa kiểm tra hồ sơ và xác minh thực địa. Nếu chỉ dựa vào lời trình bày của một bên hoặc quan sát hiện trạng mà chưa đối chiếu với hồ sơ pháp lý, kết luận đưa ra có thể thiếu căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Ngược lại, nếu quá trình xác minh kéo dài mà không có thông tin rõ ràng, nguy cơ phát sinh mâu thuẫn và khiếu nại tiếp tục gia tăng. Bởi vậy, sự thống nhất giữa hồ sơ địa chính và hiện trạng ngoài thực địa phải được xem là điều kiện nền tảng của quản lý đất đai. Nếu dữ liệu không được cập nhật kịp thời, mốc giới bị mất hoặc khó nhận biết, hoặc tài liệu qua các thời kỳ chưa được đối chiếu đầy đủ, công tác xác minh có thể gặp khó khăn. Đối với những diện tích đất tiếp giáp giữa hộ gia đình và tổ chức thuê đất, yêu cầu xác định ranh giới càng trở nên quan trọng bởi sự thiếu rõ ràng có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau về phạm vi sử dụng.
Công tác giám sát việc sử dụng đất được giao hoặc cho thuê cũng cần được thực hiện thường xuyên, gắn với trách nhiệm cụ thể. Việc ban hành quyết định giao đất hoặc cho thuê đất mới là một khâu trong quá trình quản lý. Sau khi bàn giao, cơ quan có thẩm quyền vẫn cần theo dõi việc sử dụng đất đúng mục đích, đúng diện tích, đúng ranh giới và đúng các điều kiện pháp lý. Nếu việc kiểm tra chủ yếu được thực hiện khi đã xuất hiện tranh chấp hoặc có phản ánh, khả năng phát hiện sớm những biến động bất thường có thể bị hạn chế. Đồng thời, cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương và người sử dụng đất cần được quan tâm. Những vụ việc liên quan đến ranh giới đất thường đòi hỏi sự tham gia của bộ phận quản lý đất đai, đơn vị đo đạc, cán bộ chuyên môn tại địa bàn và các chủ thể có quyền, lợi ích liên quan. Nếu thiếu sự phối hợp hoặc chưa xác định rõ trách nhiệm trong từng khâu, quá trình xác minh có thể bị kéo dài, thông tin cung cấp không đồng nhất và việc giải quyết kiến nghị khó đạt hiệu quả như mong muốn.
Tính minh bạch trong tiếp nhận, xử lý kiến nghị có vai trò quan trọng đối với chất lượng quản trị đất đai. Người dân cần được hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết, tài liệu cần cung cấp, trình tự thực hiện và kết quả xử lý theo quy định. Cơ quan quản lý cũng cần có phương thức lưu trữ, theo dõi và kiểm tra tiến độ giải quyết để bảo đảm các phản ánh được xem xét khách quan. Tính minh bạch không đồng nghĩa với việc công khai mọi tài liệu bất kể giới hạn pháp luật, mà là bảo đảm thông tin được cung cấp đúng thẩm quyền, đúng phạm vi và đủ để các bên hiểu rõ quá trình xử lý. Bên cạnh đó, nhận thức pháp luật về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của người dân và tổ chức cần tiếp tục được nâng cao. Việc tự ý thay đổi ranh giới, sử dụng diện tích liền kề hoặc tiến hành hoạt động làm thay đổi hiện trạng đất mà chưa xác định đầy đủ điều kiện pháp lý có thể dẫn đến tranh chấp và trách nhiệm pháp lý. Do đó, bên cạnh tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm, cần đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân và tổ chức chủ động kiểm tra hồ sơ, xác định mốc giới và thực hiện đúng các thủ tục liên quan đến đất đai.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, trước hết cần ưu tiên rà soát, đối chiếu toàn bộ hồ sơ pháp lý của các diện tích đất liên quan đến phản ánh. Đối với trường hợp tại khu vực thôn Vạn Lộc, việc xác minh cần tập trung vào hồ sơ của hộ gia đình ông Nguyễn Tuấn Dũng, hồ sơ giao hoặc cho thuê đất đối với khu đất liền kề được cho là doanh nghiệp đang sử dụng, bản đồ địa chính và tài liệu thể hiện quá trình biến động đất đai. Việc rà soát phải làm rõ nguồn gốc, diện tích, loại đất, ranh giới, thời hạn và mục đích sử dụng, đồng thời xác định các tài liệu có giá trị pháp lý làm căn cứ kết luận. Nếu có sự khác biệt giữa các giấy tờ, cần phân tích nguyên nhân và thực hiện các thủ tục xác minh theo quy định thay vì lựa chọn riêng lẻ một tài liệu để làm căn cứ duy nhất.
Tiếp theo, cần tổ chức kiểm tra thực địa và đo đạc khi cần thiết. Việc kiểm tra nên có sự tham gia của cơ quan chuyên môn, đại diện các bên có liên quan và những chủ thể cần thiết theo quy định. Kết quả cần xác định được vị trí các mốc giới, diện tích thực tế đang được sử dụng, phạm vi hàng rào, khu vực trồng cây và ao, đồng thời thể hiện mối tương quan giữa hiện trạng với bản đồ và hồ sơ pháp lý. Khi có điều kiện, việc sử dụng dữ liệu đo đạc số, hệ thống thông tin địa lý và ảnh viễn thám có thể hỗ trợ theo dõi biến động, nhưng dữ liệu kỹ thuật cần được kiểm chứng và sử dụng đúng giá trị pháp lý trong quá trình xác minh.
Cùng với đó, cần tăng cường giám sát đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, đặc biệt tại những khu vực tiếp giáp với đất của hộ gia đình, cá nhân. Công tác giám sát cần kết hợp giữa kiểm tra định kỳ và kiểm tra theo dấu hiệu rủi ro. Đối với khu đất có biến động hiện trạng, có hoạt động dựng hàng rào, đào ao hoặc mở rộng khu vực sản xuất, cơ quan quản lý cần xem xét mức độ thay đổi so với hồ sơ và yêu cầu chủ thể sử dụng đất cung cấp tài liệu cần thiết khi có căn cứ kiểm tra. Việc kiểm tra phải bảo đảm khách quan, không gây cản trở trái pháp luật đối với hoạt động sử dụng đất hợp pháp, đồng thời không để các dấu hiệu vi phạm có cơ sở xác minh bị bỏ qua.
Một giải pháp quan trọng khác là chuẩn hóa quy trình tiếp nhận và giải quyết phản ánh về đất đai. Quy trình cần xác định rõ đầu mối tiếp nhận, nội dung cần phân loại, trách nhiệm của bộ phận chuyên môn, thời hạn xử lý theo quy định và phương thức thông báo kết quả. Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền cần xác định nội dung phản ánh thuộc trường hợp cần kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính, tranh chấp đất đai hay một thủ tục hành chính khác để lựa chọn trình tự phù hợp. Những nội dung chưa đủ căn cứ cần được yêu cầu bổ sung hoặc xác minh; những nội dung thuộc thẩm quyền của cơ quan khác cần được hướng dẫn hoặc chuyển xử lý theo quy định. Việc lập hồ sơ theo dõi đầy đủ sẽ giúp hạn chế tình trạng thông tin bị gián đoạn và tạo điều kiện kiểm tra trách nhiệm trong quá trình giải quyết.
Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong quản lý và sử dụng đất. Cơ quan quản lý có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền, kiểm tra hồ sơ và hiện trạng khi có căn cứ, xử lý vi phạm nếu được xác định và thông tin kết quả theo quy định. Tổ chức thuê đất phải sử dụng đúng diện tích, mục đích, ranh giới và điều kiện được phép; chủ động kiểm tra mốc giới và không tự ý mở rộng phạm vi sử dụng. Hộ gia đình, cá nhân cũng cần lưu giữ giấy tờ về quyền sử dụng đất, phối hợp cung cấp tài liệu và phản ánh kịp thời khi phát hiện dấu hiệu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp. Sự phân định này giúp nâng cao trách nhiệm giải trình và tránh việc quy trách nhiệm khi chưa có kết quả xác minh.
Nếu kết quả xác minh cho thấy giữa các bên có tranh chấp về quyền sử dụng đất hoặc ranh giới thửa đất, cần hướng dẫn thực hiện thủ tục hòa giải theo Điều 235 Luật Đất đai năm 2024 và xác định thẩm quyền giải quyết theo Điều 236 cùng các quy định có liên quan. Quá trình hòa giải cần dựa trên hồ sơ, chứng cứ, ý kiến của các bên và kết quả kiểm tra thực địa; không nên chỉ dừng ở việc vận động các bên tự thỏa thuận khi những vấn đề pháp lý cốt lõi chưa được làm rõ. Trường hợp hòa giải không thành, các bên cần được hướng dẫn thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định.
Về chế tài xử lý vi phạm, Điều 13 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc xử phạt hành vi lấn đất hoặc chiếm đất, với hình thức và mức xử phạt được xác định theo loại đất, diện tích, tính chất hành vi và các điều kiện cụ thể. Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm có thể phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có khôi phục tình trạng ban đầu của đất, khôi phục ranh giới và mốc giới thửa đất hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định. Việc áp dụng chế tài đối với vụ việc được phản ánh tại xã Đông Anh chỉ có thể thực hiện sau khi xác minh đầy đủ chủ thể, hành vi, diện tích, loại đất, căn cứ xác định quyền sử dụng đất và thẩm quyền xử lý. Không thể xác định trước mức phạt hoặc kết luận trách nhiệm của bất kỳ bên nào chỉ từ thông tin phản ánh ban đầu.
Về lâu dài, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đất đai và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân. Việc cập nhật, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai, số hóa hồ sơ địa chính và kết nối thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền có thể góp phần giảm thời gian tra cứu, hỗ trợ phát hiện biến động và nâng cao tính nhất quán của dữ liệu. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu đầu vào chính xác, được cập nhật thường xuyên và có cơ chế kiểm soát chất lượng. Đối với những thửa đất có lịch sử biến động phức tạp hoặc có tranh chấp, cần bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc tài liệu và đối chiếu với hiện trạng, không coi bản đồ số là căn cứ duy nhất thay thế toàn bộ quá trình xác minh pháp lý. Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả giám sát xã hội và trách nhiệm cung cấp thông tin. Phản ánh của người dân, hoạt động báo chí và việc tiếp nhận kiến nghị có thể giúp cơ quan quản lý nhận diện những bất cập trong thực tiễn sử dụng đất. Tuy nhiên, thông tin phản ánh cần được kiểm chứng khách quan; việc thông tin về vụ việc phải phân biệt rõ giữa nội dung do người dân cung cấp, dữ liệu đã được cơ quan chức năng xác nhận và kết luận chính thức. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm quyền được thông tin, vừa hạn chế nguy cơ gây ảnh hưởng không có căn cứ đến uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan.
Quản lý đất nông nghiệp hiệu quả đòi hỏi sự thống nhất giữa hồ sơ pháp lý, hiện trạng sử dụng đất và trách nhiệm giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp phản ánh liên quan đến diện tích đất nông nghiệp tại khu vực thôn Vạn Lộc, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội cho thấy tầm quan trọng của việc xác minh ranh giới thửa đất, làm rõ phạm vi sử dụng đất của tổ chức được cho thuê và bảo đảm quá trình tiếp nhận, xử lý kiến nghị được thực hiện minh bạch, đúng quy định. Do chưa có đầy đủ hồ sơ và kết quả xác minh chính thức, chưa thể kết luận có hay không hành vi lấn, chiếm đất hoặc xác định trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan. Yêu cầu đặt ra trước mắt là đối chiếu hồ sơ địa chính, giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ giao hoặc cho thuê đất và kết quả kiểm tra thực địa để làm rõ bản chất vụ việc. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền cần lựa chọn trình tự xử lý phù hợp, bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng căn cứ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Về lâu dài, việc nâng cao chất lượng dữ liệu địa chính, tăng cường kiểm tra hiện trạng, chuẩn hóa quy trình giải quyết kiến nghị, đẩy mạnh chuyển đổi số và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể là những giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Quản lý đất đai không chỉ là hoạt động hành chính nhằm kiểm soát việc sử dụng một nguồn lực tự nhiên mà còn là quá trình bảo đảm công bằng, minh bạch và củng cố niềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước. Khi các phản ánh được xem xét khách quan, giải quyết kịp thời trên cơ sở chứng cứ và pháp luật, hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai sẽ được nâng cao, góp phần hạn chế tranh chấp và thúc đẩy sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, ổn định, bền vững.
Trần Tuấn
Tin nóng
- Bảo vệ môi trường trong việc quản lý bến bãi vật liệu xây dựng đảm bảo đúng pháp luật từ thực tiễn xã Sông Lô (Phú Thọ)
17/10/2026 11:02:51 SA
- XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỪ THỰC TIỄN HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
14/10/2026 3:38:04 CH
- CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN: TỪ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN TRIỂN KHAI
27/07/2026 12:05:13 CH
- Thực tiễn bảo vệ môi trường trong giao thông ở nước ta hiện nay và giải pháp
16/07/2026 12:02:08 CH
- Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên quyết liệt xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
11/07/2026 8:18:55 SA
.jpg)












