Bảo vệ môi trường trong việc quản lý bến bãi vật liệu xây dựng đảm bảo đúng pháp luật từ thực tiễn xã Sông Lô (Phú Thọ)

17/10/2026 11:02:51 SA
Share Bai :

Hoạt động tập kết, chế biến vật liệu xây dựng ven sông đặt ra yêu cầu quản lý đồng bộ giữa sử dụng đất, kiểm soát hoạt động sản xuất và bảo vệ môi trường. Tại thôn Khoái Thọ, xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ, tài liệu kiểm tra được cung cấp ghi nhận một bến bãi vật liệu có diện tích sử dụng vượt ranh giới được xác định, đồng thời phản ánh những vấn đề liên quan đến hoạt động nghiền, rửa cát, sỏi và việc kiểm soát nước thải phát sinh. Trường hợp này đặt ra yêu cầu rà soát hồ sơ pháp lý về đất đai, xác minh điều kiện hoạt động của cơ sở và đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định. 

https://youtu.be/MKJ4sRgC8pQ?si=GrzZwakwFfhQtPMf

Đất đai và môi trường là những yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đất đai vừa là nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa là không gian tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên và cộng đồng dân cư. Trong khi đó, môi trường là điều kiện thiết yếu bảo đảm chất lượng cuộc sống, sức khỏe cộng đồng và tính bền vững của các hoạt động phát triển. Vì vậy, quản lý đất đai và bảo vệ môi trường cần được thực hiện đồng bộ, nhất là tại những khu vực có hoạt động tập kết, chế biến vật liệu xây dựng ven sông, nơi các hoạt động sử dụng đất, vận chuyển, lưu giữ vật liệu và phát sinh chất thải có thể tác động trực tiếp đến môi trường xung quanh.

Trong thực tiễn, hoạt động của các bến bãi vật liệu xây dựng ven sông không chỉ đặt ra yêu cầu về sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới mà còn đòi hỏi cơ sở hoạt động phải tuân thủ các điều kiện pháp lý liên quan đến sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường. Nếu diện tích sử dụng thực tế vượt phạm vi được phép, hoạt động sản xuất không phù hợp với mục đích sử dụng đất hoặc nước thải không được thu gom, xử lý theo yêu cầu, nguy cơ phát sinh vi phạm và ảnh hưởng đến môi trường có thể gia tăng. Những vấn đề này đòi hỏi cơ quan quản lý đất đai, cơ quan phụ trách môi trường và chính quyền địa phương phải phối hợp trong quá trình kiểm tra, giám sát, xử lý và theo dõi việc khắc phục hậu quả.

Tại thôn Khoái Thọ, xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ, tài liệu được cung cấp liên quan đến hoạt động của Công ty TNHH Đại Quang Hùng Mạnh cho thấy cần làm rõ ba nội dung cơ bản: phạm vi sử dụng đất thực tế so với ranh giới được xác định trong hồ sơ; tính phù hợp của hoạt động nghiền, rửa và chế biến vật liệu với mục đích sử dụng đất được phép; việc thu gom, xử lý nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động. Đây là những vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ, bởi việc kiểm soát diện tích sử dụng đất sẽ không thể đạt hiệu quả đầy đủ nếu không đồng thời giám sát hoạt động diễn ra trên đất và các tác động môi trường phát sinh. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác tình trạng pháp lý của cơ sở, cần phân biệt giữa nội dung phản ánh, thông tin được ghi nhận trong biên bản kiểm tra và kết luận xử lý chính thức của cơ quan có thẩm quyền.

Luật Đất đai số 31/2024/QH15 quy định người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất và tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan. Quy định này là cơ sở quan trọng để kiểm soát hoạt động sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Việc được giao đất hoặc thuê đất để làm bến bãi tập kết vật liệu xây dựng không đồng nghĩa với việc chủ thể sử dụng đất đương nhiên được thực hiện mọi hoạt động sản xuất, chế biến vật liệu tại địa điểm đó. Tính hợp pháp của hoạt động thực tế cần được xem xét trên cơ sở mục đích sử dụng đất, hồ sơ pháp lý của khu đất, các thủ tục liên quan và những điều kiện pháp luật áp dụng đối với từng loại hình hoạt động.

Đối với hành vi sử dụng đất vượt ranh giới hoặc không đúng mục đích, cơ quan có thẩm quyền cần đối chiếu hồ sơ địa chính, giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyết định giao hoặc cho thuê đất và các tài liệu xác định mốc giới trên thực địa. Nếu có sự chênh lệch giữa diện tích được phép sử dụng và diện tích thực tế, cần làm rõ nguồn gốc phần đất chênh lệch, quyền sử dụng hợp pháp của các chủ thể liên quan và căn cứ xác định hành vi vi phạm. Việc xử lý phải tuân thủ Luật Đất đai, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc quy định có liên quan đang có hiệu lực tại thời điểm xử lý. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và điều kiện cụ thể của vụ việc, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật.

Song song với yêu cầu quản lý đất đai, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt ra các yêu cầu về kiểm soát nguồn thải, quản lý nước thải và bảo vệ chất lượng môi trường nước mặt. Đối với các cơ sở có phát sinh nước thải trong quá trình sản xuất, trách nhiệm pháp lý cụ thể phụ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động, loại nước thải, lưu lượng phát sinh và các yêu cầu pháp luật áp dụng. Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý những hành vi vi phạm được cơ quan có thẩm quyền xác minh. Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm và áp dụng chế tài đối với một cơ sở cụ thể phải dựa trên kết quả kiểm tra, tài liệu chuyên môn và các căn cứ pháp lý tương ứng, không thể chỉ dựa vào phản ánh về hiện tượng xả nước ra sông.

Hoạt động rửa cát, sỏi có thể phát sinh nước chứa bùn, cặn và các chất rắn lơ lửng. Nếu nước thải không được thu gom, xử lý phù hợp trước khi xả ra môi trường, các chất này có thể làm gia tăng độ đục, thúc đẩy quá trình tích tụ trầm tích và ảnh hưởng đến chất lượng nước tại khu vực tiếp nhận. Tùy theo quy mô và đặc điểm nguồn thải, tác động có thể biểu hiện khác nhau, đòi hỏi phải được đánh giá bằng các phương pháp kiểm tra và phân tích chuyên môn. Vì vậy, việc kiểm soát môi trường tại các bến bãi ven sông cần được tiến hành từ khâu nhận diện nguồn phát sinh nước thải, xác định phương thức thu gom, kiểm tra công trình xử lý đến giám sát vị trí xả thải và đánh giá chất lượng nước khi cần thiết.

Theo tài liệu được cung cấp, ngày 25/6/2010, UBND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trước đây, ban hành Quyết định số 652/QĐ-UBND về việc thu hồi và bàn giao 5.600 m² đất cho bà Nguyễn Thị Hà thuê làm bến bãi tập kết vật liệu xây dựng, với thời hạn 49 năm kể từ ngày ký quyết định. Ngày 13/6/2025, bà Nguyễn Thị Hà ký hợp đồng số 01.2025/HĐKT liên quan đến việc chuyển nhượng mặt bằng giao dịch dân sự diện tích 5.600 m² cho Công ty TNHH Đại Quang Hùng Mạnh. Những thông tin này đặt ra yêu cầu làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục sử dụng khu đất theo hồ sơ thuê đất và pháp luật hiện hành. Việc chuyển giao mặt bằng thông qua giao dịch dân sự không mặc nhiên đồng nghĩa với việc quyền thuê đất hoặc quyền sử dụng đất được chuyển giao hợp pháp trong mọi trường hợp. Do đó, cần kiểm tra các tài liệu liên quan và xác định liệu giao dịch có đáp ứng các điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định hay không.

Theo nội dung phản ánh, tại bến bãi có hoạt động nghiền đá, sỏi thành cát và rửa cát, sỏi. Trong khi đó, Quyết định số 652/QĐ-UBND ngày 25/6/2010 được tài liệu dẫn lại xác định diện tích 5.600 m² được thuê để làm bãi tập kết vật liệu xây dựng. Sự khác biệt giữa mục đích sử dụng đất ghi trong hồ sơ và hoạt động thực tế tại bến bãi đặt ra yêu cầu xác minh tính phù hợp của các hoạt động sản xuất, kinh doanh đang diễn ra. Cần phân biệt giữa việc lưu giữ, tập kết vật liệu với hoạt động nghiền, sàng, rửa hoặc chế biến vật liệu, bởi mỗi loại hoạt động có thể kéo theo những yêu cầu pháp lý khác nhau về đất đai, xây dựng và môi trường. Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào tên gọi của hoạt động để kết luận vi phạm mà cần xem xét đầy đủ hồ sơ của cơ sở, điều kiện được phép hoạt động và các quy định áp dụng tại thời điểm kiểm tra.

Theo phát biểu được tài liệu cung cấp dẫn lại, ông Nguyễn Xuân Hưng, Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Sông Lô, cho rằng hoạt động thực tế của doanh nghiệp chưa phù hợp với mục đích sử dụng đất được xác định trong hồ sơ. Ông nhấn mạnh rằng khu đất được phép sử dụng làm bãi tập kết vật liệu xây dựng, trong khi doanh nghiệp triển khai hoạt động sản xuất vật liệu. Ý kiến này cho thấy cơ quan chuyên môn đã đặt vấn đề về sự phù hợp giữa mục đích sử dụng đất và hoạt động thực tế. Tuy nhiên, để xác định chính xác hành vi và trách nhiệm pháp lý, cần đối chiếu nội dung phát biểu với hồ sơ thuê đất, các thủ tục liên quan đến hoạt động sản xuất và kết quả kiểm tra chính thức của cơ quan có thẩm quyền.

Đáng chú ý, theo biên bản kiểm tra, xác minh hiện trạng sử dụng đất ngày 7/9/2026 của Phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Sông Lô được trích dẫn trong tài liệu, tổng diện tích doanh nghiệp đang sử dụng là 8.202 m². Trong đó, diện tích nằm trong ranh giới được xác định là 5.600 m², còn diện tích vượt quá ranh giới là 2.602 m². Như vậy, phần diện tích được ghi nhận vượt ranh giới chiếm khoảng 31,7% tổng diện tích đang sử dụng. Đây là tỷ lệ đáng chú ý khi xem xét phạm vi sử dụng đất thực tế của bến bãi. Tuy nhiên, con số này phản ánh kết quả ghi nhận trong biên bản được cung cấp; việc xác định có hành vi lấn, chiếm đất hay không vẫn cần căn cứ vào hồ sơ địa chính, nguồn gốc phần đất chênh lệch, quyền sử dụng hợp pháp của các chủ thể và kết quả xác minh theo quy định.

Tài liệu cho biết phần diện tích vượt ranh giới có liên quan đến việc doanh nghiệp tự thỏa thuận mua bán hoặc thuê đất nông nghiệp của các hộ dân xung quanh. Nội dung này cần được kiểm tra thêm, bởi thỏa thuận giữa các bên không mặc nhiên thay thế những điều kiện và thủ tục pháp lý cần thiết để sử dụng đất đúng mục đích, đúng phạm vi. Đối với diện tích đất nông nghiệp, cần làm rõ quyền của các hộ dân, loại đất, điều kiện thực hiện giao dịch và tính hợp pháp của việc sử dụng đất vào hoạt động bến bãi hoặc sản xuất vật liệu. Nếu việc sử dụng đất không đáp ứng các điều kiện pháp luật, cơ quan chức năng cần xác định đúng hành vi, chủ thể và biện pháp xử lý tương ứng.

Cũng theo nội dung được tài liệu dẫn lại, ông Nguyễn Xuân Hưng cho biết cơ quan địa phương đã lập ba biên bản liên quan đến hoạt động của Công ty TNHH Đại Quang Hùng Mạnh. Các nội dung được đề cập gồm vấn đề mốc giới, xả thải và sử dụng đất không đúng mục đích. Theo phát biểu này, doanh nghiệp đã cam kết cắm mốc giới, sử dụng đúng diện tích 5.600 m², xây dựng bể lắng để khắc phục vấn đề nước thải và hoàn thiện các vấn đề pháp lý liên quan đến mục đích sử dụng đất trong thời hạn 30 ngày. Phát biểu cũng đề cập việc báo cáo UBND tỉnh và khả năng phối hợp với cơ quan công an để tham mưu xử lý theo quy định. Những thông tin này cho thấy cơ quan địa phương đã ghi nhận các vấn đề cần khắc phục và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện những biện pháp liên quan. Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả thực thi, cần tiếp tục xác minh nội dung cụ thể của từng biên bản, quyết định xử lý nếu có, thời hạn thực hiện và kết quả khắc phục trên thực tế.

Bên cạnh vấn đề đất đai, tài liệu phản ánh nước phát sinh từ quá trình rửa cát, sỏi tại bến bãi được xả ra sông Lô. Theo nội dung tài liệu, cơ quan địa phương đã yêu cầu doanh nghiệp dừng việc xả nước thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu, đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục tại khu vực liên quan. Về phương diện môi trường, nước thải từ hoạt động rửa cát, sỏi có thể chứa lượng lớn chất rắn lơ lửng, bùn và cặn. Nếu không được quản lý phù hợp, dòng thải có thể làm thay đổi đặc tính vật lý của nước tại khu vực tiếp nhận, gây tích tụ trầm tích và ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước xung quanh. Dù vậy, mức độ tác động thực tế tại khu vực cụ thể cần được xác định thông qua kiểm tra hiện trường, lấy mẫu và phân tích theo phương pháp chuyên môn phù hợp.

Một vấn đề quan trọng khác là kết quả thực hiện các yêu cầu khắc phục sau kiểm tra. Tài liệu được cung cấp nêu thời hạn doanh nghiệp phải báo cáo kết quả khắc phục về UBND xã Sông Lô trước ngày 30/9/2026, nhưng chưa kèm theo tài liệu xác nhận tình trạng thực hiện sau thời hạn này. Do đó, cần tiếp tục cập nhật thông tin về việc xây dựng, vận hành bể lắng, hệ thống thu gom nước thải, tình trạng xả thải hiện tại và kết quả kiểm tra của cơ quan chức năng. Việc yêu cầu xây dựng công trình xử lý nước thải chỉ có ý nghĩa khi công trình được thực hiện đúng yêu cầu, vận hành hiệu quả và đáp ứng các quy định áp dụng đối với nguồn thải. Nếu chỉ dừng ở cam kết hoặc việc hoàn thành công trình về mặt hình thức mà không kiểm tra hiệu quả vận hành, nguy cơ tái diễn tình trạng xả thải không bảo đảm yêu cầu vẫn có thể tồn tại.

Từ trường hợp này có thể thấy, quản lý bến bãi vật liệu ven sông cần được thực hiện theo hướng kiểm soát đồng thời diện tích sử dụng đất, mục đích sử dụng và hoạt động thực tế. Việc xác định ranh giới là yêu cầu ban đầu nhưng chưa đủ để bảo đảm hiệu quả quản lý nếu không có cơ chế giám sát quá trình sử dụng đất. Đối với các khu đất tiếp giáp đất nông nghiệp của hộ dân, việc xác định và duy trì mốc giới rõ ràng có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa tranh chấp, hạn chế việc mở rộng phạm vi hoạt động ngoài diện tích được phép và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Hồ sơ địa chính, kết quả đo đạc, biên bản kiểm tra và tài liệu xử lý cần được lưu trữ đầy đủ, cập nhật kịp thời để phục vụ đối chiếu khi phát sinh vấn đề.

Đối với hoạt động sản xuất vật liệu, cơ quan quản lý cần xem xét không chỉ diện tích đất được sử dụng mà còn cả tính chất hoạt động diễn ra trên đất. Trường hợp sử dụng đất làm bến bãi tập kết vật liệu nhưng phát sinh hoạt động nghiền, sàng, rửa và chế biến vật liệu cho thấy cần kiểm soát chặt chẽ mối quan hệ giữa mục đích sử dụng đất với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu hoạt động thực tế khác với hồ sơ ban đầu, cần làm rõ chủ thể sử dụng đất có phải thực hiện thủ tục điều chỉnh hoặc đáp ứng điều kiện bổ sung hay không. Việc đánh giá phải dựa trên quy định cụ thể và hồ sơ của cơ sở, tránh đồng nhất mọi hoạt động chế biến vật liệu với một hành vi vi phạm khi chưa đủ căn cứ.

Trước hết, cần rà soát toàn bộ hồ sơ pháp lý liên quan đến khu đất, bao gồm Quyết định số 652/QĐ-UBND ngày 25/6/2010, hợp đồng số 01.2025/HĐKT ngày 13/6/2025, bản đồ địa chính, tài liệu xác định mốc giới và các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng diện tích đất nông nghiệp liền kề. Đối với phần diện tích 2.602 m² được ghi nhận vượt ranh giới, cần xác minh nguồn gốc đất, quyền sử dụng của các hộ dân liên quan và căn cứ pháp lý để doanh nghiệp sử dụng phần diện tích này. Trường hợp xác định có vi phạm, cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng biện pháp xử lý và khắc phục phù hợp theo pháp luật đất đai hiện hành, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Tiếp đó, cần kiểm tra điều kiện pháp lý của các hoạt động nghiền, sàng và rửa cát, sỏi tại bến bãi. Việc kiểm tra phải tập trung vào sự phù hợp giữa hoạt động thực tế với mục đích sử dụng đất, quy hoạch, các thủ tục liên quan và điều kiện hoạt động theo quy định. Nếu cơ sở chưa đáp ứng điều kiện pháp luật áp dụng đối với hoạt động đang thực hiện, cơ quan có thẩm quyền cần yêu cầu chấm dứt hành vi hoặc thực hiện biện pháp khắc phục theo đúng trình tự và thẩm quyền. Việc xử lý phải dựa trên tài liệu xác minh cụ thể, bảo đảm phân biệt rõ giữa sai phạm về sử dụng đất, vi phạm trong hoạt động sản xuất và những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành khác.

Đối với công tác bảo vệ môi trường, cần tăng cường kiểm tra hệ thống thu gom và xử lý nước thải, vị trí xả thải, quy trình vận hành bể lắng và chất lượng nước thải khi có căn cứ cần thiết. Cơ quan chức năng cần xác định rõ nguồn phát sinh, phương thức thu gom, khả năng tuần hoàn nước và việc thực hiện các yêu cầu môi trường áp dụng đối với cơ sở. Nếu phát hiện hành vi xả thải trái quy định, việc xử lý phải căn cứ vào kết quả kiểm tra và pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời theo dõi việc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với những cơ sở ven sông có nguy cơ phát sinh nước thải chứa bùn, cặn, cần xây dựng cơ chế giám sát định kỳ kết hợp kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu bất thường để chủ động phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm.

Một giải pháp có ý nghĩa thiết thực là xây dựng cơ chế theo dõi sau kiểm tra. Các yêu cầu khắc phục cần xác định rõ nội dung công việc, thời hạn hoàn thành, cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi và phương thức xác nhận kết quả. Sau khi hết thời hạn, cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra thực tế, lập hồ sơ ghi nhận tình trạng thực hiện và xem xét xử lý nếu tổ chức, cá nhân không chấp hành hoặc khắc phục không đầy đủ theo yêu cầu hợp pháp. Đối với những vấn đề cần sự phối hợp của nhiều cơ quan, cần phân định rõ trách nhiệm trong việc kiểm tra đất đai, đánh giá môi trường và xử lý vi phạm, tránh tình trạng thông tin bị gián đoạn hoặc khó theo dõi tiến độ. Đồng thời, cần tăng cường tính minh bạch trong quản lý bến bãi vật liệu ven sông thông qua việc cung cấp thông tin phù hợp với quy định pháp luật về phạm vi sử dụng đất, mục đích được phép, yêu cầu bảo vệ môi trường và kết quả xử lý. Các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng cần được tuyên truyền, hướng dẫn để nhận thức rõ nghĩa vụ sử dụng đất đúng phạm vi, thực hiện đầy đủ yêu cầu môi trường và phối hợp với cơ quan chức năng khi có yêu cầu kiểm tra.

Từ góc độ quản lý nhà nước, trường hợp bến bãi vật liệu tại thôn Khoái Thọ, xã Sông Lô, cho thấy yêu cầu phải gắn quản lý đất đai với kiểm soát hoạt động sản xuất và bảo vệ môi trường. Theo biên bản kiểm tra được tài liệu cung cấp trích dẫn, tổng diện tích doanh nghiệp đang sử dụng là 8.202 m², trong đó 2.602 m² được ghi nhận vượt quá ranh giới xác định. Bên cạnh đó, hoạt động nghiền, rửa cát, sỏi và vấn đề nước thải cần tiếp tục được kiểm tra trên cơ sở hồ sơ pháp lý và kết quả chuyên môn. Những thông tin này là căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiếp tục xác minh, nhưng chưa đủ để thay thế kết luận chính thức về hành vi vi phạm, mức độ ảnh hưởng môi trường và trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể.

Để giải quyết vụ việc khách quan, cần làm rõ nguồn gốc và quyền sử dụng đối với phần đất vượt ranh giới, xác định điều kiện pháp lý của hoạt động thực tế và kiểm tra kết quả thực hiện các yêu cầu khắc phục môi trường. Mọi kết luận về vi phạm, chế tài và trách nhiệm của các bên phải dựa trên chứng cứ đầy đủ, đúng thẩm quyền và quy định pháp luật hiện hành. Về lâu dài, tăng cường kiểm tra định kỳ, quản lý chặt mốc giới, giám sát nguồn thải và theo dõi việc thực hiện các yêu cầu sau kiểm tra là những giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý bến bãi vật liệu ven sông. Qua đó, vừa bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh tuân thủ pháp luật, vừa góp phần bảo vệ chất lượng môi trường nước sông Lô, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững.

Trần Tuấn - Minh Thanh