CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN: TỪ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN TRIỂN KHAI
Tóm tắt
Chế định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình là chế định mang nhiều giá trị nhân văn, vừa bảo đảm quyền tự chủ kinh tế, thúc đẩy dòng chảy thương mại và tạo cơ hội kinh doanh độc lập cho mỗi bên mà không làm phá vỡ quan hệ hôn nhân pháp lý. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phủ đã hướng dẫn cụ thể việc phân chia và hậu quả pháp lý sau khi phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhưng chưa có quy định cụ thể trường hợp nào phải công chứng văn bản hoặc nghĩa vụ nợ phát sinh sau đó. Thực tiễn triển khai còn nhiều vướng mắc như tâm lý e ngại của vợ chồng, vợ chồng không đồng thuận, tài sản không đủ điều kiện để công chứng, hoặc trường hợp phân chia để trốn tránh nghĩa vụ. Bài viết tập trung phân tích quy định pháp luật về phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, từ đó chỉ ra những vướng mắc thực tế và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Từ khoá:
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản vợ chồng; ly hôn; tranh chấp tài sản; tài sản chung.
Abstract
The legal institution governing the division of common property during marriage, as provided under the Law on Marriage and Family, embodies significant humanitarian values. It not only safeguards the spouses' economic autonomy but also facilitates commercial transactions and creates opportunities for each spouse to independently engage in business activities without dissolving the legal marital relationship. Although the 2014 Law on Marriage and Family and Government Decree No. 126/2014/ND-CP dated 31 December 2014 provide relatively detailed regulations on the division of common property and the legal consequences arising from such division during marriage, they do not specifically prescribe the circumstances in which the property division agreement must be notarized, nor do they clearly regulate liability for debts incurred after the division. In practice, the implementation of these provisions continues to face numerous challenges, including spouses' reluctance to divide their property, disagreements between spouses, intentional property division to evade legal obligations, and situations where the property does not satisfy the legal requirements for notarization. This article examines the legal framework governing the division of common property during marriage, identifies practical challenges in its implementation, and proposes recommendations for improving the existing legal framework.
Keywords: division of common property during marriage; division of marital property; divorce; property disputes; common marital property.
.jpg)
Đặt vấn đề:
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trong những chủ đề được quan tâm trong bối cảnh kinh tế phát triển mạnh mẽ. Điều này được tác động, dẫn dắt từ nhiều yếu tố như: để xét một doanh nghiệp hợp tác, các đối tác xét cả về tình trạng hôn nhân của chủ doanh nghiệp; tỷ lệ ly thân tăng; công ty gia đình đạt đến một ngưỡng phát triển nhất định và cần chia tách … khi đó vợ hoặc chồng thường có xu hướng tách bạch kinh tế chung và riêng nhằm phát triển sự nghiệp theo ý muốn, không bị cản trở do bất đồng quan điểm hay sợ bị tranh chấp khi tài sản đạt ở ngưỡng nhất định. Thực tế cho thấy, không dễ dàng vợ chồng đồng thuận phân chia hoặc tài sản không đáp ứng đủ điều kiện công chứng hay còn tồn tại việc phân chia tài sản chỉ nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Do đó, bài viết tập trung vào phân tích quy định pháp luật về chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và những thực tiễn triển khai, từ đó đề xuất đẩy mạnh việc tuyên truyền pháp luật và ban hành hướng dẫn đặc thù nhằm bảo toàn dòng chảy thương mại.
- Quy định về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Quy định về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải là một quy định mới mà đã có từ Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 1986 [1]. Theo đó, pháp luật cho phép chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng như: vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó, một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi xử về ly hôn [2]. Kế thừa quy định này, Luật Hôn nhân và Gia đình qua các thời kỳ từ 2000 đến 2014 đều có quy định cụ thể về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Theo quy định tại các Điều 38, 39 và 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 [3], vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có quyền tự nguyện thỏa thuận bằng văn bản (có công chứng theo yêu cầu hoặc theo luật định) để chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Trường hợp không thỏa thuận được thì mỗi bên đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, cần phải hiểu không phải tài sản nào cũng có thể phân chia, cụ thể không được chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, của con (chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình) hoặc nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ [3]. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản được xác định từ thời điểm do hai bên thỏa thuận ghi trong văn bản, hoặc từ ngày lập văn bản nếu không có thỏa thuận, hoặc từ thời điểm hoàn thành các thủ tục hình thức bắt buộc đối với các tài sản đặc thù, hoặc từ ngày phán quyết của Tòa án chính thức có hiệu lực pháp luật [3].
Về hậu quả pháp lý, sau thời điểm chia có hiệu lực, phần tài sản được chia cùng với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối tài sản đó sẽ trở thành tài sản riêng của mỗi người. Do việc chia tài sản chung không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định nên phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung. Về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản được chia là tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, cần lưu ý nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng [4]. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [3]. Quy định này nhằm bảo đảm an toàn cho các giao dịch dân sự và thương mại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.
- Thực tiễn triển khai các quy định phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Mặc dù hành lang pháp lý đã mở ra quyền tự quyết và định hướng rõ ràng trong cách phân chia tài sản chung cho vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, song thực tiễn triển khai còn nhiều rào cản, vướng mắc xuất phát từ nhiều yếu tố. Theo tác giả, thực tiễn trải khai thường mắc ba vấn đề cốt lõi sau:
Thứ nhất, rào cản từ tâm lý xã hội và tâm lý trốn tránh nghĩa vụ
Xuất phát từ truyền thống văn hoá và bản chất của chế độ tài sản pháp định là bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ nhân thân và củng cố sự bền vững của gia đình, các cặp vợ chồng Việt Nam thường có xu hướng gộp chung lợi ích kinh tế vào đời sống tình cảm theo nguyên tắc “của chồng công vợ”. Việc chủ động đề xuất tách bạch sản nghiệp khi hôn nhân đang êm ấm luôn bị coi là nhạy cảm, có thể bị coi như biểu hiện của sự ích kỷ hay thiếu tin tưởng, khiến họ e ngại đối mặt. Do đó, ý chí rạch ròi tài sản hầu như không bao giờ tự nguyện xuất hiện, trừ khi mối quan hệ nhân thân đã bị rạn nứt hoặc có biến cố nợ nần nghiêm trọng. Cũng chính bởi lẽ đó rất nhiều người mặc dù có tư tưởng cải tiến về tài sản chung, riêng nhưng vẫn e ngại khi đề xuất phân chia tài sản chung, riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Mặt khác, cũng cần nhìn nhận, rất nhiều trường hợp phân chia tài sản nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ và điều này bị pháp luật cấm [3]. Điển hình như vụ án chồng yêu cầu phân chia tài sản là khoản tiền tiết kiệm đứng tên riêng vợ đang trong tài khoản ngân hàng đang bị cơ quan thi hành án phong toả để đảm bảo cho nghĩa vụ thi hành án của người vợ theo Bản án số 20/2018/HNGĐ-ST ngày 27/9/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh về việc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân [6]. Một vụ án tương tự khác được Toà án nhân dân tỉnh Long An tuyên tại Bản án số 03/2025/HNGĐ-PT ngày 21/01/2025 về việc tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, yêu cầu xác định tài sản riêng [7]. Điểm chung của hai vụ án là Toà án không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vì yêu cầu này nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có trường hợp được Toà án chấp thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như vụ án tại Bản án số 08/2019/HNGĐ-PT ngày 07/3/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang về tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân [8]. Trong vụ án này, Nguyên đơn và Bị đơn là vợ chồng, đều là người cao tuổi, không muốn ly hôn vì định kiến xã hội nhưng có tranh chấp trong quá trình chia đất đai nên buộc phải khởi kiện ra Toà án để yêu cầu phân chia.
Thứ hai, vướng mắc từ tài sản phân chia chưa đủ giấy tờ pháp lý theo quy định
Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thường là tiền mặt, tiền tiết kiệm, vàng, xe, nhà, đất, vốn góp hoặc cổ phần tại các Công ty hay các quyền sở hữu trí tuệ khác. Theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì: “Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật”. Như vậy, luật chỉ bắt buộc thoả thuân chia tài sản phải được lập thành văn bản, còn việc công chứng chỉ phải thực hiện khi có yêu cầu của một bên hoặc pháp luật quy định. Tuy nhiên, do chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể các trường hợp phải bắt buộc công chứng văn bản thoả thuận, nên trên trực tế, đối với việc phân chia tài sản có giá trị lớn các bên thường thực hiện công chứng. Đối với các tài sản là Bất động sản, do Luật đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023 quy định giao dịch liên quan đến nhà, đất phải công chứng, Do vậy, để đảm bảo văn bản phân chia là căn cứ pháp lý thực hiện được việc đăng ký biến động tài sản trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Văn bản phân chia phải được công chứng.
Tuy nhiên thực tế, rất nhiều tài sản phân chia không có đủ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp làm căn cứ công chứng, ví như đất chưa có Giấy chứng nhận hoặc nhà đất đang thế chấp tại Ngân hàng ... Thực tế tồn tại, có nhiều tài sản chung tồn dưới dạng tài sản đầu tư "lướt sóng" (mua bán qua hợp đồng cọc nối, vi bằng hoặc ủy quyền nhằm tiết kiệm chi phí) nên họ chưa thực hiện thủ tục sang tên đổi chủ trên giấy chứng nhận. Thêm vào đó, các loại đất nền, vùng ven chưa ra sổ, hoặc bất động sản hình thành trong tương lai chưa đủ điều kiện mở bán cũng chiếm tỷ trọng rất lớn trong danh mục tích lũy của các gia đình. Đối với nhóm tài sản này, do thiếu hụt bộ giấy tờ pháp lý gốc theo quy định nên không thể công chứng được. Hệ quả là, ngay cả khi vợ chồng có sự đồng thuận tuyệt đối, họ cũng không có cách nào thiết lập được một văn bản phân chia có giá trị pháp lý để bảo vệ quyền tài sản riêng biệt của mình trước các biến động tương lai. Việc lập văn bản nhưng không công chứng tiềm ẩn nhiều rủi ro tranh chấp.
Thứ ba, những khó khăn vướng mắc sau khi phân chia tài sản chung trong thời kỳ hônnhân
Một trong những vấn đề cần lưu ý là sau khi phân chia tài sản, làm thế nào để phân biệt được tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản riêng (như hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng) hay là tài sản chung (do đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng mà ra)!? Để làm rõ, tác giả xin phân tích một trường hợp sau: Chồng chia toàn bộ vốn góp tại Công ty TNHH X cho vợ làm tài sản riêng. Trường hợp vợ không điều hành kinh doanh/lao động tại Công ty X, Công ty X chia lợi nhuận cho vợ thì lợi nhuận được chia là lợi tức phát sinh từ tài sản được chia riêng nên là tài sản riêng của vợ. Trường hợp vợ có điều hành kinh doanh, lao động tại Công ty X, vậy lợi nhuận được chia có bao gồm cả công sức lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người vợ, vậy lợi nhuận là tài sản chung hay tài sản riêng, tỷ lệ phân chia như thế nào? Trên thực tế vấn đề này chưa được hướng dẫn và làm rõ.
Mặt khác, cần phải bàn luận về các khoản nợ phát sinh sau thời điểm phân chia tài sản là nợ chung hay nợ riêng. Tiếp ví dụ nêu trên, trường hợp Công ty X cần tiền đầu tư, người vợ vay tiền của bên thứ ba để đầu tư kinh doanh vào Công ty X thì khoản nợ này là nợ chung của vợ chồng hay nợ riêng của người vợ. Dưới góc độ kinh nghiệm tranh tụng của tác giả, phán quyết cuối cùng của Hội đồng xét xử luôn phụ thuộc vào việc "dòng tiền đó đi đâu và phục vụ ai". Ví như, lợi nhuận có được từ Công ty X được dùng để đóng tiền học cho con hoặc đóng tiền thuê nhà hoặc chi phí cho sinh hoạt gia đình thì Toà án sẽ xem xét về khoản nợ đó là nợ chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Kết luận và kiến nghị
Với những vướng mắc trong thực tiễn phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như trên đã nêu, tác giả thiết nghĩ cần phải đẩy mạnh việc tuyên truyền pháp luật và ban hành hướng dẫn đặc thù nhằm bảo toàn dòng chảy thương mại, cụ thể:
Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quy định phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Trong đó cần chú trọng những quy định phân chia bị vô hiệu do ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; phân chia nhằm trốn tránh các nghĩa vụ như: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; …
Thứ hai, bên cạnh việc tuyên truyền hậu quả của việc phân chia tài sản khi pháp luật không cho phép thì cần tuyên truyền ý nghĩa, giá trị của quy định phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Tác giả cho rằng đây là một quy định nhân văn làm hạn chế tình trạng ly hôn chỉ vì muốn phân chia tài sản. Thực tế cho thấy, kinh tế càng phát triển, nhiều chủ doanh nghiệp càng muốn tách bạch tài sản của chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Bên cạnh đó có rất nhiều cặp vợ chồng trong quá trình chung sống mới phát hiện các điểm khác biệt trong chiến lược làm kinh tế hay tư duy quản trị nhưng vẫn mong muốn có một gia đình đủ bố và mẹ cho các con. Vì vậy, thay vì phải ly hôn, các bên có thể lựa chọn giải pháp phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để đảm bảo các con vẫn có đủ tình yêu thương trọn vẹn của bố và mẹ.
Thứ ba, cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn về việc phân định khoản nợ chung hay nợ riêng phát sinh từ khối tài sản đã được phân chia trong thời kỳ hôn nhân. Đồng thời cần phải quy định rõ, chi tiết hơn hoặc tiêu chí để xác định tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng, từ đó phân biệt được đó là tài sản chung hay riêng, hoặc cách xác định tỷ lệ phân chia, bởi đây cũng chính là căn cứ để xem xét nếu có khoản nợ phát sinh thì đó là nợ chung hay nợ riêng.
Thứ tư, cần có quy định hướng dẫn các loại tài sản nào bắt buộc khi phân chia phải được lập thành văn bản có công chứng, trường hợp tài sản chưa đủ giấy tờ công chứng nhưng đủ căn cứ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng (như đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận) theo luật chuyên ngành thì có được phép công chứng Văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không.
Tác giả bài viết cho rằng, nếu có sự tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu rõ ý nghĩa, giá trị cũng như quy định pháp luật về phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân để mọi người cùng tuân thủ sẽ phần nào làm hạn chế tình trạng ly hôn mà nguyên nhân chính vì tranh chấp tài sản, dẫn đến mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng đến mục đích hôn nhân không đạt được.
ThS, Luật sư Hoàng Thị Oanh
Trường Đại học Hoà Bình
Tác giả liên hệ: htoanh139@daihochoabinh.edu.vn
Tài liệu tham khảo:
{1} Quốc hội, Luật Hôn Nhân và Gia đình số 21-LCT/HĐNN7 ngày 29 tháng 12 năm 1986
{2} Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 01 năm 1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình
{3} Quốc hội, Luật Hôn Nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014
{4} Chính Phủ, Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
{5}https://pbgdpl.gov.vn/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1963&l=Nghiencuutraodoi {6}Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Bản án số 20/2018/HNGĐ-ST ngày 27/9/2018 về việc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
{7} Toà án nhân dân tỉnh Long An, Bản án số 03/2025/HNGĐ-PT ngày 21/01/2025 về việc tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, yêu cầu xác định tài sản riêng
{8} Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang, Bản án số 08/2019/HNGĐ-PT ngày 07/3/2019 về tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Tin nóng
- Thực tiễn bảo vệ môi trường trong giao thông ở nước ta hiện nay và giải pháp
16/07/2026 12:02:08 CH
- Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên quyết liệt xử lý vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
11/07/2026 8:18:55 SA
- Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư và quản lý trật tự xây dựng từ thực tiễn phường Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
25/06/2026 6:38:37 CH
- Điều kiện lao động và an toàn sản xuất trong doanh nghiệp cơ khí công nghiệp nhìn từ một ví dụ điển hình tại công ty TNHH MTV Diesel Sông Công
05/06/2026 11:32:22 SA
- Tp. Hồ Chí Minh: Xã Bà Điểm quyết liệt trong công tác xử lý ô nhiễm môi trường
03/06/2026 10:40:42 SA
.jpg)












