Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

02/06/2026 2:41:00 CH
Share Bai :

Tóm tắt: Việt Nam đang bước vào thời điểm mang tính bước ngoặt khi môi trường toàn cầu đang trải qua những biến đổi nhanh và tái cấu trúc mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, đối ngoại, ngoại giao có vai trò trọng yếu, thường xuyên trong việc giữ vững môi trường hòa bình, huy động nguồn lực quốc tế và mở rộng không gian phát triển, góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định nền đối ngoại Việt Nam phải được định hướng phát triển toàn diện, hiện đại và vững chắc, nhằm tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Để xứng đáng với vai trò đó, mặt trận đối ngoại với vị trí là một mặt trận tư tưởng quan trọng đang đứng trước những nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

1. Mở đầu

Lịch sử dân tộc Việt Nam đang đứng trước một vận hội mới, một ngưỡng cửa mang tính bước ngoặt để hiện thực hóa khát vọng hùng cường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi. Sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã có vị thế và tiềm lực với nhiều dấu ấn nổi bật trên trường quốc tế. Đảng ta luôn coi trọng công tác đối ngoại, ngoại giao. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Thực tế đã chứng minh Đường lối đối ngoại của Đảng đã góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước. Việt Nam đã tạo được sự tin cậy trong cộng đồng quốc tế, nâng tầm quan hệ song phương, hợp tác đa phương trong khu vực và trên thế giới.

Những diễn biến phức tạp, khó lường trong tình hình chính trị - an ninh thế giới như xung đột kéo dài ở khu vực Trung Đông, vấn đề Đài Loan, nguy cơ khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, bất ổn địa chính trị từ cuộc chiến Nga - Ukraine leo thang; xung đột Israel – Hamas, căng thẳng Trung - Nhật… cho thấy các “điểm nóng” an ninh truyền thống có sự gia tăng về quy mô và mức độ. Bên cạnh đó, những thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng nổi lên ngày càng rõ nét, tác động trực tiếp đến m,ôi trường an ninh và phát triển của nước ta. Từ nay đến năm 2030 và những năm tiếp theo, dự báo tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, khó lường. Bởi vậy, ngoại giao Việt Nam phải phát huy vai trò tiên phong, tích cực, chủ động, linh hoạt, đồng bộ, hiệu quả; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “ngoại giao Việt Nam”. Mục tiêu cốt lõi là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ độc lập chủ quyền, đồng thời huy động tối đa nguồn lực quốc tế để đưa đất nước phát triển đột phá.

 Một số hình ảnh về đàm phán hiệp định song phương về cùng bảo vệ và trao đổi thông tin mật



2. Những kết quả nổi bật của công tác đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam trong những năm qua

Trong quan hệ quốc tế, hợp tác và cạnh tranh, đối tác và đối tượng ngày càng đan xen. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã hình thành và không ngừng hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.   Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được kết quả hết sức quan trọng giúp tạo lối, mở đường, khơi thông quan hệ, mở ra cục diện mới thuận lợi cho công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền ngoại giao Việt Nam được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa, truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đó là đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu, đồng thời linh hoạt, khôn khéo về sách lược, luôn nắm bắt thời cơ và có đối sách thích hợp trên tinh thần tuân thủ luật pháp quốc tế và bảo đảm nguyên tắc “các bên cùng có lợi”.. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đánh dấu sự đổi mới tư duy của Đảng trong công tác đối ngoại, đó là nhấn mạnh mục tiêu “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước”, bổ sung quan điểm “tự chủ chiến lược”, “tự cường”, khẳng định vai trò, sứ mệnh của đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Đường lối đối ngoại của Đảng luôn được phát triển và đổi mới cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, dựa trên là nền tảng tư tưởng của Đảng.  Xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc, bài học thành công của đổi mới tư duy đối ngoại Việt Nam là luôn nắm bắt thời cuộc, đánh giá đúng và trúng thời cơ trong từng giai đoạn cụ thể của cách mạng, xác định vấn đề “đối tác” và “đối tượng”, từ đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế, tận dụng thế và lực, nhằm bảo vệ thành quả của cách mạng.

Thứ hai, công tác đối ngoại, ngoại giao dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng quản lý của Nhà nước đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sự đoàn kết của cả hệ thống chính trị, tạo nên cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hoá, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Sự phát triển toàn diện và đồng bộ của 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại quốc hội và đối ngoại nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa ngoại giao Việt Nam đạt được nhiều thành tựu mang tính bước ngoặt, nâng tầm vị thế đất nước trên trường quốc tế. Công tác đối ngoại được nâng tầm, đạt kết quả nổi bật, từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ; có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20); có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả các châu lục, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực; đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương, được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác thêm nhiều trọng trách trong các cơ chế đa phương, nhất là trong ASEAN và tại Liên hợp quốc. Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Các tổ chức, đoàn thể nhân dân có quan hệ đối ngoại thiết thực với 1200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài[1]. Đồng thời, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của Quốc hội trong tình hình mới, vừa qua, Đảng đoàn Quốc hội đã ban hành đề án về Định hướng đối ngoại của Quốc hội và Đề án Thông tin đối ngoại của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XV và đến năm 2030 với các nội dung mang tính định hướng cho hoạt động đối ngoại và thông tin đối ngoại của Quốc hội từ nay đến năm 2030, phương hướng, giải pháp cụ thể cần triển khai trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, qua đó tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, cũng như công tác thông tin đối ngoại của Quốc hội đến năm 2030. 

Thứ ba, công tác đối ngoại, ngoại giao đã thể hiện được vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đường lối đối ngoại của nước ta đã thể hiện xuyên suốt lập trường “bất biến” là độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia- dân tộc, đồng thời luôn mềm dẻo, linh hoạt “vạn biến” với tinh thần đề cao hòa bình, hợp tác trên cơ sở luật pháp quốc tế.  Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, khó lường, chưa có tiền lệ, công tác đối ngoại, ngoại giao đã góp phần xử lý hài hòa, cân bằng mối quan hệ với các nước, giải quyết các vấn đề phức tạp trên biển và biên giới đất liền, đẩy lùi chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia. Nghị quyết số 59-NQ/TW ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược, toàn diện và định hướng của Đảng về thế giới và thời cuộc, tạo cơ sở phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong, trọng yếu và thường xuyên của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Theo tinh thần đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới giữ vai trò nền tảng trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, củng cố vai trò lãnh đạo, quản lý và nâng cao uy tín, vị thế của Đảng và Nhà nước. 

Thứ tư, công tác đối ngoại, ngoại giao góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập quốc tế, huy động các nguồn lực bên ngoài để kiến thiết đất nước. Công tác đối ngoại và ngoại giao đóng vai trò tiên phong, là "cầu nối" chiến lược giúp Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực (vốn, công nghệ, tri thức) từ bên ngoài để xây dựng và phát triển đất nước. Thông qua đối ngoại, đất nước tiếp cận được các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc tích cực tham gia vào các thể chế đa phương giúp Việt Nam khẳng định bản sắc, tiếng nói trên trường quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó,ngoại giao kinh tế chủ động thúc đẩy các hiệp định thương mại, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, từ đó tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế. Bốn mươi năm kiên trì chính sách mở cửa hội nhập, với hàng loạt những quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã giúp Việt Nam mở rộng cánh cửa tiếp cận với nền kinh tế quốc tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển, Việt Nam đã phát triển toàn diện trên mọi ngành nghề, lĩnh vực, nhanh chóng vươn lên, trở thành điểm sáng kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập toàn diện vào nền kinh tế thế giới ở quy mô toàn cầu: là thành viên của hầu hết cơ chế hợp tác, liên kết đa phương từ khu vực, liên khu vực đến cấp độ toàn cầu (Diễn đàn Hợp tác Á-Âu, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Liên hợp quốc, WTO …). Đến năm 2025, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 13 nước trên thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác trên nhiều lĩnh vực như thương mại, đầu tư, công nghệ và du lịch … và mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho Việt Nam. Từ một nước nhập siêu, Việt Nam đã tích cực sản xuất, mở rộng thương mại với toàn cầu, giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên qua từng năm và xuất khẩu hàng hóa trở thành một thế mạnh của Việt Nam trong những năm gần đây, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP hàng năm. Điều này cho thấy hội nhập kinh tế quốc tế là quyết sách đúng đắn để phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm qua. Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn của đầu tư và kinh doanh quốc tế khi nằm trong nhóm 15 nước đang phát triển thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI lớn nhất thế giới và hàng đầu trong khu vực ASEAN.

Thứ năm, đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam đã đóng góp tích cực vào giữ gìn hòa bình, hợp tác, phát triển của thế giới, nang cao năng lực của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung mang tính toàn cầu, từ đó nâng cao vị thế, vai trò của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam đã tham gia giải quyết nhiều vấn đề quốc tế, đề xuất các sáng kiến, giải pháp trên cơ sở luật pháp quốc tế, được cộng đồng quốc tế đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao. Việt Nam đã tích cực đóng góp tiếng nói và đề xuất các giải pháp mang tính xây dựng nhằm duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực và trên thế giới, tham gia giữ gìn hòa bình quốc tế thông việc việc cử sĩ quan làm nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc tại các điểm nóng, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu về ứng phó với biến đổi khí hậu, cam kết mạnh mẽ tại các Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu (COP), đặc biệt là mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, qua đó cùng thế giới ứng phó với khủng hoảng khí hậu. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực an ninh lương thực và y tế, Việt Nam cũng chủ động chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lương thực và vật tư y tế cho nhiều quốc gia trong các cuộc khủng hoảng toàn cầu (như đại dịch COVID-19). Viẹt Nam đã nhận được sự đánh giá cao từ cộng đồng quốc tế.Thực tế cho thấy, cùng với những nỗ lực không ngững trong công tác đối ngoại của Việt Nam, cộng đồng quốc tế đã tín nhiệm, đề cử Việt Nam gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc, Hội đồng thống đốc cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), là Chủ tịch luân phiên thường trực của ASEAN, thành viên Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), là bên tham gia đàm phán xây dựng Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TTP)…

Thứ sáu, đối ngoại và ngoại giao đã góp phần xây dựng, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tạo nên sức mạnh mềm của nước ta trên trường quốc tế. Trong thời gian qua, việc xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng, toàn diện vào đời sống quốc tế. Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra mục tiêu: nâng cao hình ảnh của  đất nước và con người Việt Nam, giới thiệu rộng rãi hình ảnh quốc gia Việt Nam trên toàn thế giới, văn hóa Việt Nam có những đóng góp mới được ghi nhận trong đời sống văn hóa quốc tế. Chỉ thị số 25/CT-TTg, ngày 10-9-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc đẩy mạnh triển khai Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam”, nhấn mạnh phải tăng cường quảng bá hình ảnh quốc gia ra nước ngoài dưới nhiều hình thức. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nâng thêm một bước, đối ngoại văn hóa được xác định là một chiến lược then chốt. Thông qua đối ngoại, Việt Nam đã xây dựng được hương hiệu quốc gia, lan tỏa giá trị văn hóa ruyền thống và đương đại của Việt Nam ra thế giới. Hiện nay chúng ta có 9 di sản văn hóa thế giới, mục tiêu chiến lược đến năm 2045, phấn đấu có thêm khoảng 05 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh, góp phần khẳng định vị thế văn hóa Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.

3. Những thách thức đặt ra đối với công tác đối ngoại, ngoại giao trong thời gian tới

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, công tác đối ngoại đối mặt với cục diện thời cơ và thách thức đan xen. Những thách thức chủ yếu như sau:

Môi trường đối ngoại trong những năm tới sẽ còn phức tạp, khó lường. Các đối tác lớn của ta đang trong quá trình điều chỉnh chiến lược, bối cảnh thế giới thường xuyên biến động, môi trường chính trị, an ninh, kinh tế khu vực và thế giới đang trở nên bất ổn với các tác động nhanh, mạnh và bất ngờ hơn. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ quyết liệt. Việc thực hiện nhiệm vụ bao trùm là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định do đó sẽ gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, an ninh thông tin,... phản ánh thực tế là các thách thức an ninh phi truyền thống đã, đang và sẽ thực sự là mối đe dọa đối với cuộc sống của con người. Điều này đã gây ra cuộc khủng hoảng trên cả ba lĩnh vực: lương thực, nhiên liệu và tài chính.

Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lợi quốc gia sẽ đứng trước một số thách thức mới. Trên không gian biển, các tranh chấp chủ quyền vẫn diễn biến phức tạp và gia tăng. Các yêu sách chủ quyền không có cơ sở pháp lý, đi ngược lại Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), tình trạng tàu cá, lực lượng chấp pháp hoặc khảo sát nước ngoài hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa, cản trở các hoạt động kinh tế biển hợp pháp (như khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản) vẫn tiếp diễn, đã làm gia tăng nguy cơ xung đột, đe dọa hòa bình và an toàn hàng hải. Đó là do sự biến động phức tạp của tình hình, sự thay đổi so sánh lực lượng, sự tính toán của các nước có liên quan, sự nổi lên của chủ nghĩa đơn phương, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế. Các cơ chế kiểm soát bất đồng, khủng hoảng trong khu vực chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả; các thể chế đa phương khó đạt được lập trường chung đủ mạnh. Ở trong nước, chúng ta phải cảnh giác trước những âm mưu "diễn biến hòa bình", gây bạo loạn, những hành động ẩn núp dưới các chiêu bài khác nhau hòng gây mất ổn định chính trị trong nước. Các vấn đề quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong những năm gần đây đã làm giảm sút lòng tin trong nhân dân, làm suy giảm nội lực và tác động tiêu cực đến hình ảnh và vị thế của Việt Nam trước quốc tế. 

Công tác đối ngoại đa phương cũng sẽ gặp thách thức hơn. Hiện nay, vai trò của các thể chế đa phương đang có xu hướng giảm đi. Cục diện chính trị chi phối bởi nhân tố nước lớn, một số cơ chế đa phương mới lại có xu hướng phục vụ cạnh tranh nước lớn. Sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn khiến Việt Nam phải đối mặt với áp lực lớn trong việc duy trì đường lối độc lập, tự chủ và giữ thăng bằng. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc củng cố vai trò trung tâm trong khu vực ASEAN. Đông Nam Á nằm ở trung tâm cạnh tranh chiến lược gay gắt, đặt ra bài toán khó cho Việt Nam và ASEAN trong việc giữ vững sự độc lập, tự chủ. Sự khác biệt về lợi ích quốc gia và quan điểm chính trị giữa các nước thành viên đôi khi làm chậm quá trình ra đi đến quyết định đồng thuận của khối. Các điểm nóng khu vực, xung đột nội bộ cũng như căng thẳng biên giới, chủ quyền trên đất liền, trên biển giữa các quốc gia Đông Nam Á cùng với các vấn đề về biến đổi khí hậu, an ninh mạng và dịch bệnh đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, tạo áp lực lớn lên năng lực điều phối chung của cộng đồng ASEAN.

Kinh tế đối ngoại gặp những thách thức mới. Bước sang thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế biến động với những vấn đề nổi bật tác động đến môi trường kinh doanh và đầu tư toàn cầu, đó là sự khủng hoảng của an ninh phi truyền thống, diễn biến dịch Covid-19, chiến tranh Mỹ - Trung… Năm 2022, lạm phát tại các nền kinh tế phát triển là 5,7% và tại thị trường các nền kinh tế mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển là 8,7%[2]. Điều này đang làm gia tăng tình trạng rủi ro, khủng hoảng môi trường kinh doanh và đầu tư, ảnh hưởng đáng kể tới đà phục hồi FDI toàn cầu. Đại  dịch Covid-19 và những tàn dư của dịch Covid-19 vẫn tồn tại, sụt giảm tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), nợ xấu gia tăng cùng những hệ lụy không nhỏ. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và sự leo thang căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã vượt qua biên giới hai nước, tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Hơn thế nữa, chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng ở các thị trường xuất khẩu lớn của ta. Chiến tranh thương mại giữa các nước lớn đang hiện hữu. Vai trò của các thể chế đa phương lớn như WTO, APEC đang bị đe dọa. Sự phát triển của khoa học, công nghệ cũng đang đặt ra những vấn đề mới đối với thương mại và đầu tư nước ngoài. Khoảng cách về công nghệ đặt ra thách thức lớn đối với nước ta trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng kỹ thuật cao. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đòi hỏi các tiêu chuẩn cao hơn về lao động, sở hữu trí tuệ.

Sức ép từ công nghệ và chuyển đổi số đối. với công tác ngoại giao là một thách thức rất lớn. Hạ tầng số, dữ liệu, không gian thông tin và công nghệ đang trở thành những trụ cột của quá trình chuyển đổi số nhưng cùng với đó những thách thách an ninh cũng dần xuất hiện. Chuyển đổi số không chỉ là liên quan đến công nghệ hay kinh tế mà đang mở ra những “mặt trận an ninh mới”: an ninh dữ liệu, an ninh nhận thức, an ninh công nghệ. Công tác ngoại giao trước bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng phát sinh nguy cơ rò rỉ bí mật quốc gia, tấn công mạng vào các hệ thống thông tin đối ngoại. Ngoài ra, vấn đề chủ quyền trên không gian mạng cũng là vấn đề hết sức quan ngại trong công tác đối ngoại. Không gian mạng vượt qua các ranh giới địa lý truyền thống, đặt ra nhiều thách thức chưa từng có trong công tác đối ngoại. Đây là lĩnh vực giao thoa phức tạp giữa chính trị, luật pháp quốc tế và công nghệ, đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lược ứng phó linh hoạt. Các cuộc tấn công mạng, chiến dịch thông tin sai lệch hay gián điệp công nghệ là những rủi ro an ninh phi truyền thống đe dọa trực tiếp đến sự ổn định chính trị và ngoại giao. Do đó, trong bối cảnh mới, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là  thách thức cần đưa vào chính sách, chiến lược phát triển đất nước, trên bình diện ngoại giao cần thúc đẩy đàm phán và ký kết các hiệp ước quốc tế nhằm thiết lập quy tắc ứng xử chung trên không gian mạng.

4. Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác đối ngoại, ngoại giao trong thời gian tới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định cùng với việc “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng[3] thì “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”[4]. Để xứng đáng với vị trí then chốt trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, nền đối ngoại, ngoại giao trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cần xác định những yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới.

Thứ nhất, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Đại hội XII của Đảng ta đã khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao quốc gia – dân tộc, dựa trên các nguyên tắc cơ bản về luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển và đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[5]. Đảng ta tiếp tục khẳng định đường lối này trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và có hiệu quả; giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam”[6]. Đại hội XIV đã nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển quan hệ đối ngoại trong kỷ nguyên mới;… là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế”[7]. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có những bước vươn mình mạnh mẽ, có vị trí địa chiến lược trong sự chuyển dịch hiện nay của khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh thách thức đan xen với cơ hội, rủi ro luôn đi kèm với thời cơ, trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, chúng ta vẫn luôn phải kiên định đường lối đối ngoại, kế thừa và phát triển sáng tạo bài học đối ngoại của ông cha ta, nhất là nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, phát huy vai trò của nền ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, luôn bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt nhưng kiên cường trước khó khăn, thách thức.

Đồng thời, chúng ta kiên trì nguyên tắc “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Bối cảnh quốc tế có thể có những diễn biến khó lường, chưa từng có trong tiền lệ nhưng trong xu hướng biến động đó, cộng đồng quốc tế vẫn có những giá trị chung, “hòa bình - hợp tác – phát triển vẫn là khát vọng lớn của nhân loại, là xu thế, là mục tiêu chung của đại bộ phận các dân tộc trên thế giới”[8]. Các quốc gia tiến bộ trên thế giới sẽ tiếp tục theo đuổi bảo vệ lợi ích chính đáng của mình trên cơ sở Hiến chương Liên Hợp quốc, Luật pháp quốc tế và các chuẩn mực quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi. Nền đối ngoại trong bối cảnh mới bức thiết kiên định xây dựng lòng tin trong quan hệ quốc tế, nếu không có lòng tin thì khó có thể hợp tác.

Thứ hai, không ngừng đổi mới tư duy về đối ngoại. Đổi mới tư duy đối ngoại, trước hết là kế thừa, phát huy truyền trống ngoại giao của dân tộc, vận dụng sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với thực tiễn trong nước và bối cảnh quốc tế. Bên cạnh đó, cần cập nhật, bổ sung nội hàm của đối ngoại như nhận thức về thế giới, định vị đất nước, lợi ích quốc gia-dân tộc, quan hệ đối tác- đối tượng. Công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới cần nhận thức đúng về tình hình thế giới, khu vực và vị thế của Việt Nam trong dòng chảy chung của thời đại. Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi mang tính thời đại. Tổng Bí thư Tô Lâm đã đánh giá, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới. Bối cảnh trên đặt ra yêu cầu cao hơn đối với đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, đối ngoại là một trụ cột then chốt, tiên phong tạo môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thứ ba, chú trọng công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại. Muốn làm tốt công tác tham mưu cần đánh giá đúng các xu hướng của thời đại. Trong thời đại ngày nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo nhưng bên cạnh đó nguy cơ xung đột, chiến tranh vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Những thách thức và cơ hội luôn đan xen, là tiền đề nhưng cũng là những thách thức không nhỏ trong hành trình triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Bối cảnh quốc tế và khu vực tiếp tục tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi cần phải luôn theo dõi, bám sát tình hình, vận dụng phương pháp khoa học để đánh giá đúng bối cảnh quốc tế. Đặc biệt, phải nắm bắt, dự báo được các xu hướng trong quan hệ quốc tế, khu vực cũng như mục tiêu, lợi ích, ý đồ chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, đối với khu vực và Việt Nam để đề ra đường lối, chính sách, sách lược kịp thời, trong đó phải luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng và triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới trên 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân và tất cả các lĩnh vực của công tác đối ngoại. mở rộng hơn nữa mạng lưới quan hệ hợp tác không chỉ với các đối tác truyền thống là các quốc gia, tổ chức mà với cả các đối tác mà đất nước đang có nhu cầu (như các Tập đoàn công nghệ lớn, đặc biệt về các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo, lượng tử, bán dẫn…), đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu thực chất, ổn định, hiệu quả. Đẩy mạnh ngoại giao phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững; phục vụ tăng trưởng 2 con số, 4 chuyển đổi lớn (chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng/phát triển).

Thứ năm, phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “Giữ nước từ khi chưa nguy” là nhiệm vụ trọng yếu của công tác đối ngoại[9]. Công tác đối ngoại, ngoại giao cần phải mềm mại nhưng kiên quyết, linh hoạt nhưng thận trọng, có kế sách chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột trên cơ sở giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Để giữ vững hòa bình, ổn định cho quốc gia, dân tộc, trong công tác đối ngoại cần phải đưa các quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, đồng thời đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện để tăng vị thế, sự tin cậy chính trị. Trong quan hệ với các nước, Việt Nam cần giữ gìn chữ “đồng” và chữ “tín”, hợp tác chân thành, tin cậy, thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận, cam kết quốc tế, như vậy mới có thể xây dựng được quan hệ đối ngoại bền chặt, vững chắc, tranh thủ tối đa được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giữ vững hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ sáu, tập trung hoàn thiện các quy định của Đảng về triển khai đối ngoại và hội nhập quốc tế, trong đó có việc triển khai hiệu quả Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại. Đồng thời, cần nghiên cứu hình thành các cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong triển khai đối ngoại và hội nhập quốc tế để bảo đảm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị nhằm tăng cường hơn nữa sự phối hợp hiệu quả, đồng bộ giữa các lực lượng làm công tác đối ngoại như đối ngoại Quốc hội, đối ngoại Quốc phòng, đối ngoại Công an nhân dân, đối ngoại địa phương... và cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước trong triển khai đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đó thì yếu tố con người đóng vai trò then chốt, cần bố trí nguồn lực phù hợp cho đối ngoại tương xứng với thế và lực mới của đất nước và yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới. Đội ngũ cán bộ ngoại giao cần phải được từng bước Cùng với đó, cần tăng cường đào tạo đội ngũ chuyên gia; đưa người vào tổ chức quốc tế, khu vực; trang bị kỹ năng chuyên môn, ngoại ngữ; đổi mới công tác đánh giá cán bộ; có cơ chế, chính sách thu hút người tài, sàng lọc cán bộ; có cơ chế khuyến khích, đãi ngộ, sử dụng và trọng dụng nhân tài. Đặc biệt, tiếp tục đẩy mạnh nâng cao năng lực đối ngoại, hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Nguyễn Tuấn Anh

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập (2011) , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV, Tập I-II, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội

5. Nguyễn Phú Trọng (2023), Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Vũ Trọng Lâm (2018),  Văn hoá đối ngoại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

7. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,  Công tác đối ngoại Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam, https://dangcongsan.vn/bongoaigiao/xay-dung-dang/cong-tac-doi-ngoai-dang-trong-tien-trinh-cach-mang-viet-nam.html

8. Tổng cục Thống kê. Tổng quan dự báo tình hình kinh tế thế giới quý II và cả năm 2022. https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/06/tong-quan-du-bao-tinh-hinh- kinh-te-the-gioi-quy-ii-va-ca-nam-2022/

[1] Công tác đối ngoại Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam, https://dangcongsan.vn/bongoaigiao/xay-dung-dang/cong-tac-doi-ngoai-dang-trong-tien-trinh-cach-mang-viet-nam.html

[2] Tổng cục Thống kê. Tổng quan dự báo tình hình kinh tế thế giới quý II và cả năm 2022. https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/06/tong-quan-du-bao-tinh-hinh- kinh-te-the-gioi-quy-ii-va-ca-nam-2022/

[3] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, trang 82

[4] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, trang 82

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIITập I. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 117 – 118, 110.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, trang 117

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, tr.105

[9] Nguyễn Phú Trọng (2023), Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia sự thật

  • Tags: