Tính ẩn dụ trong điện ảnh qua bộ phim Dương Cầm (The Piano)
Dương cầm (The Piano, 1993) là một bộ phim của điện ảnh New Zealand do Jane Campion viết kịch bản và đạo diễn. Các diễn viên tham gia bộ phim gồm có Holly Hunter, Harvey Keitel, Sam Neill và Anna Paquin.
The Piano là bộ phim về niềm đam mê, về yếu tố bản năng và nguyên sơ nhất của con người. Xã hội loài người dù văn minh đến đâu, dù cho những cảm xúc tiềm ẩn bị chôn giấu sâu đến đâu thì niềm đam mê cuối cùng là thứ không thể chối bỏ. Đây là điều mà ba nhân vật chính của bộ phim đã cho thấy thông qua nhiều trải nghiệm khác nhau dù cho chúng hoàn toàn không dễ chịu.
.jpg)
Cảnh phim Dương cầm (Ảnh: Britannica)
Vào giữa những năm 1800, Ada (Holly Hunter), một người phụ nữ Scotland thế kỷ XIX cập vào bờ biển đầy bão tố của New Zealand, cô là một cô dâu câm bị người cha bán cho một di dân người Anh tên là Stewart (Sam Neill). Cùng với hành lý, Ada mang theo cô con gái tám tuổi Flora (Anna Paquin), con gái ngoài giá thú của cô và một cây đàn piano. Ban đầu, mặc cho Ada thuyết phục, Stewart không đồng ý mang piano về nhà vì nó quá cồng kềnh không thể di chuyển từ bãi biển được. Sau đó, anh ta bán nó cho đồng hương người Anh Baines (Harvey Keitel thủ vai), một người đàn ông sống theo lối của người Maori. Ngoài piano, Baines còn muốn Ada nhận lời làm giáo viên cho anh ta. Khi anh ta ra giá cho Ada để cô có thể lấy lại cây đàn về, cô hoàn toàn không hề ý thức được cái giá phải trả.
The Piano có chủ đề về cảm xúc mạnh mẽ, bộ phim giải quyết những vấn đề về niềm đam mê bị kìm nén. Baines, người sống theo lối sống của người Maori bản địa, không còn bám víu vào các giá trị của xã hội Anh, và do đó có thể thể hiện mình một cách tự do một cách xa lạ (với lối sống Anh). Tuy nhiên, Stewart, với thái độ nghi ngờ và thù nghịch với dân bản xứ (người Maori), luôn tuân thủ theo những lề thói của xã hội Anh, giấu kín cảm xúc cho đến khi nó không thể giấu kín và bùng nổ. Ada, bị vùi dập bởi cả việc mất khả năng nói lẫn những áp lực xã hội luôn khao khát được phá vỡ và chỉ thông qua Baines cô mới tìm thấy sự can đảm để làm như vậy.
Câu chuyện của Jane Campion khuấy động và đẩy nỗi đau đớn lên cao nhưng rồi tiếp theo sau lại là sự dang dở. [5] Có những cảnh đau lòng trong bộ phim này đã trở thành hình ảnh mà người xem sẽ còn nhớ mãi khi ra khỏi rạp. Mặc dù những cảnh này gần như không được gạn lọc để trở thành cảnh đinh của The Piano, thì người ta vẫn sẽ nhớ đến nó như vậy khi những cảnh đó rõ ràng đã biểu hiện niềm đam mê tận cùng.
Bộ phim tràn đầy những ý nghĩa tượng trưng, nó thậm chí vượt qua quy tắc thông thường về tính ẩn dụ của điện ảnh để ngay cả những người xem bình thường cũng có thể cảm nhận được. Đàn piano của Ada rõ ràng tượng trưng hơn cả âm nhạc - đó là nhân vật Ada thứ hai luôn ẩn mình, là giọng nói của cô, là công cụ mà Ada chỉ biết dựa vào đó để thể hiện bản thân mình. Xã hội người Maori trong phim đại diện cho sự bung ra của những kìm nén. Sự chối bỏ điều này của Stewart hay sự chấp nhận của Baines đã cho người xem thấy rõ con người anh ta là thế nào.
Ba diễn viên chính đều có diễn xuất rực rỡ. Tất cả mọi thứ trước đây viết về Holly Hunter là đúng. Để có thể truyền tải nhiều năng lượng đến mức này và để diễn tả cảm xúc mà không cần phải nói một từ (ngoại trừ trong một vài đoạn lồng tiếng ngắn) cô đòi hỏi phải có tài năng đáng kinh ngạc. Vai Ada của Hunter chính là sự thể hiện mạnh mẽ như vai diễn Stevens của Anthony Hopkins trong The Remains of the Day (Những gì còn lại của một ngày). Harvey Keitel diễn xuất tốt, mặc dù sự phức tạp của nhân vật không cho phép anh có sự thể hiện nổi bật. Sam Neill không có nhiều đất diễn, nhưng anh đã làm tất cả để thể hiện vai Stewart. Cô bé Anna Paquin cho thấy khả năng còn tiến xa của cô. Cô bé vững vàng trong vai diễn của mình và là một tài sản quý báu của bộ phim.
Trong khi câu chuyện của Campion thật lôi cuốn, thì việc xây dựng nhân vật và kỹ thuật thể hiện lại không đạt được như vậy. Những hạn chế này đã khiến The Piano không đạt được trọn sức mạnh như nó lẽ ra có thể. Hai tuyến chạy song song nhưng những lỗ hổng trong việc xử lý tuyến truyện đã ngăn bộ phim đạt đến đỉnh cao tiềm năng của nó. Việc biên tập phim không ổn định khiến cho câu chuyện trở nên rời rạc hoặc khó hiểu. Nhiều cảnh được chuyển khá đột ngột.
.jpg)
Holly Hunter và Anna Paquin trong phim (Ảnh: womaninrevolt.com)
Trong khi vai Ada tròn trịa nhất có thể thì những nhân vật khác lại thiếu những yếu tố tạo nên tính cách của họ. Stewart mang lại cảm giác không bao giờ đạt đến đỉnh, bất chấp những nỗ lực tốt nhất của Sam Neill, và Baines đôi khi chỉ hơn một chút so với một "cái loa" để cảm xúc của Ada đi qua đó. Cá tính của Flora trải qua một sự thay đổi triệt để thật ra chỉ do những gì người xem "bị ép phải thấy" trên màn ảnh.
The Piano, dù sao cũng là một bộ phim lớn, hàm chứa thông điệp lớn lao với sự lóe sáng của những khoảnh khắc mang tính thiên tài, nhưng xét chi tiết nó chỉ được chú ý như vậy nhờ vào diễn xuất của Holly Hunter. Mặc dù mỗi cá nhân sẽ đánh giá khác nhau về những hạn chế của bộ phim nhưng thực tế là bất kỳ ai đi xem The Piano với kỳ vọng xem phim hay nhất của năm, sẽ rời khỏi rạp với chút nuối tiếc.
Cây đàn piano ở bộ phim này không chỉ là đạo cụ thông thường mà còn là một nhân vật, là phép ẩn dụ của điện ảnh. Theo cách nói của những người làm điện ảnh thì nó là "phép ẩn dụ của thiết kế" (cho bộ phim) - design metaphors. Đó là cách mà những người làm phim sử dụng một đối tượng hoặc hình ảnh để vượt lên khỏi thực tại vật lý, đây là một thách thức, bởi vì phép ẩn dụ có thể rất mơ hồ. Nó có thể là một ký hiệu có tính dẫn hướng để khán giả hiểu mục của các ẩn dụ. Một ẩn dụ hình ảnh trong thiết kế mỹ thuật điện ảnh có thể gợi mở chỉ một phần hoặc tất cả, thậm chí người ta chỉ hiểu nó thông qua các nhà phê bình hay lý luận điện ảnh. Một ẩn dụ thị giác có thể khó hiểu, nó được bọc trong một tổng thể hình ảnh, trong tình tiết câu chuyện, trong khi thường thì người xem cần điều gì đó dễ hình dung hơn... [1]
Ada không coi bản thân mình bị câm. Nhẹ nhàng vuốt ve các phím đàn, cô ấy nói với chúng ta rằng chiếc piano chính là giọng nói của cô. Ngoại trừ đứa con gái nhỏ, Flora (Anna Paquin), Ada trân quý piano của cô trên tất cả mọi thứ. Dường như không có gì khác quan trọng hơn, không phải sự cô lập của cô trên mảnh đất xa xôi này, tiền đồn nửa văn minh, hay những cơn mưa tầm tã, hoặc sự xa lạ của người Maori bản địa sống ở trước cửa nhà cô. Ngồi một cách cứng nhắc trước cây đàn, Ada dường như nhập vào một với nó, đắm chìm một cách hạnh phúc với âm nhạc khi nó chảy từ đầu ngón tay với sự điêu luyện của một loài chim biết hót. Hơn cả âm nhạc, piano là sự nuôi dưỡng cho tâm hồn cô, là cuộc sống của cô.
Khi chiếc đàn piano bắt đầu cất tiếng, Campion chuyển tốc độ thể hiện và nhanh chóng chuyển đến sự gợi tình vẫn còn đang giấu kín. Đối với Ada piano rõ ràng là một cái gì đó nhiều hơn một đạo cụ thể hiện tinh thần hay sáng tạo. Khi cô chạm vào các phím đàn thì cũng giống như cô chạm vào sự khêu gợi của người tình. đam mê của mình. Phím đàn - đạo cụ có tính cách của một nhân vật - ở đây thể hiện sự khêu gợi tình dục và khao khát dồn nén tất cả những cảm xúc giấu kín khác mà cơ thể mong manh của cô không thể truyền đạt. Nhạc của Ada là một bài hát vang lên cầu cứu, và mặc dù chồng cô không hiểu thì ngược lại Baines, tự nhiên hơn, bản năng hơn, phản hồi ngay lập tức. [2]
Mặc dù Campion tiếp cận sex qua ẩn dụ âm nhạc và dùng chiếc piano như một nhân vật phụ, kẻ chứng kiến cuộc chơi, thì đạo diễn cũng không để chất liệu trở nên khô và quá trí tuệ. Những cảnh giữa Hunter và Keitel được thể hiện như trong cảnh sex bất kỳ của một bộ phim nào. Trong khi Ada chơi đàn, Baines vòng tròn phía sau cô và hôn lên cổ cô, hoặc ngồi trên sàn nhà dưới chân khi cô chơi đàn. Đó là một tán tỉnh không giống như bất kỳ mà ta đã từng nhìn thấy trước đây, nhưng những cuộc gặp gỡ buổi chiều đơn lẻ dường như không có ý nghĩa tục tĩu hoặc vô nghĩa, thậm chí khi Baines cởi hết quần áo của mình và đi lang thang khỏa thân xung quanh chiếc piano trong khi Ada chơi đàn, tất nhiên với sự chứng kiến của nhân vật/piano.
Sự căng thẳng về tình dục mà Campion mang đến qua những cảnh quay gần như lên đến tột cùng căng thẳng. Mỗi chi tiết - thậm chí chỉ tương phản giữa vóc dáng to thô của Keitel và hình dáng như thiên nga của Hunter - dường như mang theo một mối đe dọa có thể xảy ra bạo lực. Và khi sự căng thẳng cuối cùng đã bùng nổ, nó sẽ tàn phá.
The Piano là một bộ phim giàu cảm xúc, giàu không gian, và như các tác phẩm khác của Campion, truyền tải nhiều thông qua các ký hiệu mang tính ẩn dụ cũng như đan xen các cách thể hiện trực tiếp khác. Diễn xuất đặc biệt phong phú và chi tiết. Tuy nhiên, ở một mức độ sâu sắc hơn họ (nhân vật) vẫn còn bí ẩn, như thể Campion đã nhấn mạnh rằng các nhân vật vẫn còn nửa khuất trong bóng tối. Điều này đặc biệt đúng với Hunter, người mà không cần một câu thoại nào vẫn thắng giải vai diễn hay nhất năm [3]
Như Hunter và Campion thể hiện, Ada là sự chưng cất của chủ nghĩa lãng mạn Gothic tinh khiết. [4]
Với khuôn mặt trắng và đôi mắt đau đớn, cô gợi nhớ đến những người phụ nữ bị ám ảnh trong các tiểu thuyết của chị em nhà Bronte, hoặc các nhân vật nữ chính ảm đạm của nữ văn sĩ Jane Austen trong Mansfield Park (Trang viên Mansfield). Cô đau khổ, nhưng nguồn gốc của cơn đau là bí ẩn và chúng ta sẽ chẳng bao giờ được biết.
Về vai diễn Ada, Holly Hunter không phải là lựa chọn đầu tiên cho vai này nhưng nhờ diễn xuất xuất sắc, cô đã nhận được giải Oscar cho vai diễn ám ảnh đến rợn người – và điều đáng chú ý là nhân vật không hề nói một lời nào. Đặc biệt hơn nữa, Holly Hunter đã tự chơi những bản nhạc piano của mình cho bộ phim và trở nên thành thạo ngôn ngữ ký hiệu (ngôn ngữ này thực sự không tồn tại vào những năm xảy ra câu chuyện).
Trang phục của bộ phim do nhà thiết kế Janet Patterson đảm nhiệm. Bà đã rất tài tình trong việc tạo nên sự chân thực cho trang phục của bộ phim, bằng cách đặt dệt chính xác loại vải và cùng với đó là tìm kiếm những phụ kiện cổ mang tính biểu tượng mà sau này đã trở thành một phần quan trọng của chủ đề phim: tiềm năng tình dục và sự gợi cảm của trang phục. Trang phục và phụ kiện thời Victiria trên phim cũng thể hiện sự lạc lõng của nhân vật giữa vùng đất hoang vu, đầy mưa gió và lầy lội của New Zealand. Janet Patterson đã nhận được đề cử Oscar cho Thiết kế Trang phục xuất sắc nhất với thiết kế trang phục cho bộ phim này.
Có thể nói nhà thiết kế trang phục Janet Patterson là một chuyên gia về thế kỷ XIX, sự nghiệp sáng tác của bà khá ngắn gọn (chỉ tập trung vào các bộ phim lấy bối cảnh thời kỳ đó). Nhưng điều đó không làm giảm đi sự ấn tượng của nó, bởi vì nó bao gồm những kiệt tác thiết kế trang phục như cho phim Dương cầm (The Piano, 1993), Chân dung quý cô (The Portrait of a Lady, 1996), Oscar and Lucinda (1997), Vì sao sáng (Bright Star, 2009) và Xa rời chốn thị phi (Far from the madding crowd, 2015). Điểm chung của tất cả các bộ phim của bà là ở chỗ trang phục luôn mang lại cảm giác chân thực và tinh tế đáng kinh ngạc. Và chính vì điều đó, tác phẩm của bà đã trở thành một trong những ví dụ điển hình nhất cho thấy trang phục lịch sử chính xác không làm giảm trải nghiệm của khán giả khi xem phim….
Cũng như trong các bộ phim trước đó của Campion, sự trăn trở là phẩm chất của phụ nữ. The Piano là bóng tối, là âm nhạc tuyệt vời, và sau khi nó đã đi qua, dù còn đôi chút tiếc nuối thì chúng ta vẫn sẽ còn day dứt mãi. [2]...
Đinh Thị Hằng Thạc sĩ, Giảng viên khoa Thiết kế mỹ thuật, Trường Đại học Sân khấu- Điện ảnh Hà Nội.
Tài liệu tham khảo
1. Sách Thefilmmaker’s guide to Production design. Chapter 3: design metaphors
2. Washingtonpost.com
3. The Guardian.com
4. Sách Art history for filmmakers.
5. Sách The Art of the Illusion: Deceptions to Challenge the Eye and the Mind
Tin nóng
- Ô nhiễm môi trường nước kênh thủy lợi thực trạng và giải pháp nhìn từ Bắc Ninh
08/05/2026 8:31:27 CH
- TP.HCM tập huấn nghiệp vụ truyền thông đa phương tiện năm 2026, nâng cao năng lực vận hành
06/05/2026 5:02:06 CH
- ĐẢNG BỘ PHƯỜNG THỤC PHÁN, TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI DU LỊCH
24/04/2026 1:38:06 CH
- BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN CÁC LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG – NHÌN TỪ THỰC TIỄN VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI TẠP CHÍ MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI
21/04/2026 5:56:08 CH
- Khơi dậy “ngọn lửa Hà Huy Tập” trong kỷ nguyên phát triển mới
21/04/2026 1:20:04 CH
.jpg)











