Động lực trực tiếp và gián tiếp dẫn đến biến đổi của thiên nhiên nói chung và biến đổi đa dạng sinh học trong vòng 50 năm qua

20/10/2022 2:36:58 CH
Share Bai :

Cận cảnh rừng bị tàn phá, làm biến đổi khí hậu mất hệ sinh thái tự nhiên. Ảnh: Internet

Trong 50 năm qua Tốc độ biến đổi của thiên nhiên trên toàn cầu là chưa từng có trong lịch sử loài người. Những động lực trực tiếp của sự biến đổi thiên nhiên gây tác động lớn nhất trên toàn cầu bao gồm (bắt đầu với động lực gây tác động nhiều nhất): biến động về sử dụng đất và biển; khai thác trực tiếp các sinh vật; biến đổi khí hậu; ô nhiễm; và các loài ngoại lai xâm hại dẫn đến sự đa dạng sinh học suy giảm ngày càng rõ rệt. Các nguyên nhân cơ sở này là những động lực gián tiếp của sự biến đổi bị chi phối bởi các giá trị và hành vi xã hội. Tốc độ thay đổi của các động lực trực tiếp và gián tiếp là khác nhau giữa các quốc gia và khu vực.

Đối với các hệ sinh thái trên cạn và nước ngọt, sự thay đổi về sử dụng đất đã gây tác động tương đối tiêu cực lớn nhất tới thiên nhiên kể từ năm 1970, tiếp theo là sự khai thác trực tiếp, đặc biệt là khai thác quá mức, các động thực vật và những sinh vật khác, chủ yếu qua hình thức thu hoạch, chặt cây, săn bắn và đánh bắt cá. Tại các hệ sinh thái biển, sự khai thác trực tiếp sinh vật (chủ yếu là đánh bắt cá) gây tác động tương đối lớn nhất, theo sau đó là sự thay đổi về sử dụng đất/biển. Mở rộng nông nghiệp là hình thức thay đổi mục đích sử dụng đất phổ biến nhất, với hơn một phần ba diện tích đất trên cạn được sử dụng để trồng trọt hoặc chăn nuôi. Cùng với việc tăng gấp đôi diện tích đô thị kể từ năm 1992 và sự mở rộng chưa từng có của cơ sở hạ tầng có liên quan đến gia tăng dân số và tiêu dùng, khiến hầu hết đều phải trả giá bằng rừng (phần lớn là rừng nhiệt đới lâu năm), đất ngập nước và đồng cỏ. Với các hệ sinh thái nước ngọt, một loạt mối đe dọa kết hợp đang phổ biến bao gồm khai thác nước, ô nhiễm, biến đổi khí hậu và các loài ngoại lai xâm hại. Những hoạt động này gồm khai thác trực tiếp, đặc biệt là khai thác quá mức tôm cá và các loài khác, ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền và biển, hệ thống sông ngòi và thay đổi về sử dụng đất/biển trong đó có phát triển hạ tầng cơ sở vùng ven biển và nuôi trồng thủy sản.

Các phương pháp khai thác tận diệt được sử dụng gây nguy cơ cho toàn hệ sinh thái tới bờ vực diệt vong. Ảnh Internet

Biến đổi khí hậu là một động lực trực tiếp đang ngày càng làm trầm trọng thêm tác động của các tác nhân khác đến thiên nhiên và đời sống con người. Ước tính con người đã gây ra hiện tượng ấm lên với nhiệt độ trung bình trong 30 năm qua tăng 0,2°C mỗi thập kỷ. Tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, cùng nạn cháy, lũ lụt và hạn hán do chúng mang đến, đã tăng lên trong vòng 50 năm qua, trong khi mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng từ 16 đến 21 cm kể từ năm 1900, và tốc độ mực nước biển dâng là hơn 3 mm một năm trong 2 thập kỷ gần đây. Những biến đổi này đã góp phần tác động rộng rãi trên nhiều khía cạnh của ĐDSH, bao gồm sự phân bố loài, biến động quần thể, cấu trúc quần xã và chức năng hệ sinh thái. Các tác động đang gia tăng trong các hệ sinh thái biển, trên cạn và nước ngọt và đã và đang tác động đến những đóng góp của thiên nhiên cũng như của nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt đối với con người. Tác động tổng hợp có thể làm trầm trọng thêm những tác động tiêu cực lên thiên nhiên, như ta đã thấy ở các hệ sinh thái khác nhau như rạn san hô, các hệ Bắc cực và các trảng cỏ.

Nhiều kiểu loại ô nhiễm, cũng như các loài ngoại lai xâm hại, đang tăng lên gây ra những tác động tiêu cực đến thiên nhiên. Mặc dù các xu thế ô nhiễm trên toàn cầu là hỗn hợp, song ô nhiễm không khí, nước và đất đã tăng lên ở một số khu vực. Ô nhiễm rác thải nhựa trên biển đã tăng gấp 10 lần kể từ 1980, tác động đến ít nhất 267 loài, trong đó có 86% các loài rùa biển, 44% các loài chim biển và 43% các loài thú biển. Điều này có tác động đến các chuỗi thức ăn của con người. Phát thải khí nhà kính, chất thải đô thị và nông thôn không được xử lý, ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp, khai khoáng và nông nghiệp, tràn dầu và chôn lấp chất độc hại, đã gây tác động tiêu cực mạnh mẽ đến chất lượng đất, nước ngọt và nước mặn cũng như đến bầu khí quyển toàn cầu. Số liệu tổng hợp về các loài ngoại lai đã tăng 40% kể từ năm 1980, mà sự gia tăng này có liên quan đến gia tăng hoạt động giao thương, và biến động và xu thế dân số. Gần 1/5 diện tích bề mặt trái đất là chịu rủi ro của sự xâm lấn của các loài ngoại lai, gây tác động đến các loài bản địa, chức năng của các hệ sinh thái và sự đóng góp của thiên nhiên cho con người, cho nền kinh tế cũng như cho sức khỏe chúng ta. Tốc độ xuất hiện các loài ngoại lai xâm hại mới dường như cao hơn rất nhiều so với truớc đây và chưa có dấu hiệu chậm lại.

Trong 50 năm qua, dân số toàn cầu đã tăng gấp đôi, nền kinh tế đã tăng gần gấp 4 lần và thương mại toàn cầu tăng 10 lần, kéo theo gia tăng nhu cầu năng lượng và vật liệu. Một loạt các yếu tố về kinh tế, chính trị và xã hội, bao gồm cả thương mại toàn cầu và sự phân tách về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng, đã làm chuyển đổi các lợi ích về kinh tế và môi trường cũng như những thiệt hại về sản xuất và tiêu dùng, từ đó đóng góp vào các cơ hội kinh tế mới. Tuy nhiên, chúng cũng tác động đến thiên nhiên và những lợi ích do thiên nhiên mang lại cho con người. Mức độ tiêu thụ nguyên liệu (lương thực thực phẩm, gỗ, sợi) rất khác nhau và khả năng tiếp cận không đều nhau đối với của cải vật chất có thể liên quan đến sự bất bình đẳng, từ đó dẫn đến xung đột xã hội. Trao đổi kinh tế góp phần vào sự phát triển kinh tế tổng thể, nhưng lại thường được thương lượng giữa các cá nhân và thể chế không bình đẳng về quyền lực, mà những yếu tố này có ảnh hưởng đến sự phân bổ lợi ích và các tác động lâu dài. Các quốc gia ở những trình độ phát triển khác nhau đã trải qua các mức độ suy thoái thiên nhiên khác nhau vì bất kỳ lợi ích nhất định nào của sự tăng trưởng kinh tế. Sự loại trừ, sự khan hiếm và/ hoặc sự phân bổ không đồng đều những đóng góp của thiên nhiên cho con người có thể thúc đẩy sự bất ổn và xung đột xã hội trong mối tương tác phức tạp với các yếu tố khác. Xung đột vũ trang tác động đến các hệ sinh thái còn vượt ra khỏi cả tác động gây mất ổn định xã hội, trong đó có việc di dân và thay đổi các hoạt động.

Thiên nhiên do người địa phương và người bản địa quản lý đang chịu áp lực ngày càng lớn. Thiên nhiên nhìn chung đang suy thoái chậm hơn trên đất đai của người bản địa so với đất ở nơi khác, tuy chúng cũng vẫn đang bị suy thoái, cũng như các tri thức về quản lý chúng. Ít nhất ¼ diện tích đất toàn cầu là được người bản địa sở hữu, quản lý3, sử dụng và chiếm hữu. Các diện tích này bao gồm khoảng 35% diện tích được bảo vệ một cách chính thức và khoảng 35% của phần đất liền còn lại với sự tác động rất ít của con người. Ngoài ra, một loạt các cộng đồng địa phương, bao gồm nông dân, ngư dân, người chăn nuôi, thợ săn, chủ trang trại và người sử dụng rừng, đang quản lý một diện tích đáng kể dưới các chế độ tài sản và quyền tiếp cận khác nhau. Trong số những chỉ số địa phương được phát triển và sử dụng bởi người địa phương và người bản địa, 72% chỉ số cho thấy xu hướng tiêu cực của thiên nhiên mà các xu hướng này là nền tảng cho sinh kế và phúc lợi của địa phương. Những diện tích do người bản địa và cộng đồng địa phương quản lý (bằng các chế độ sở hữu và quyền tiếp cận khác nhau) đang phải đối mặt với sự gia tăng về khai thác, sản xuất hàng hóa, khai khoáng, hạ tầng giao thông và năng lượng, dẫn đến những hậu quả khác nhau đến sinh kế và sức khỏe người địa phương.

Những tác động tiêu cực của tất cả những áp lực trên bao gồm việc tiếp tục mất nguồn sinh kế truyền thống do nạn phá rừng, mất đất ngập nước, khai khoáng, mở rộng nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt cá kém bền vững, cùng những tác động đến sức khỏe và phúc lợi do ô nhiễm và mất an ninh nguồn nước. Những tác động này cũng thách thức đến quản lý truyền thống, đến việc truyền tải tri thức bản địa, tiềm năng chia sẻ lợi ích và khả năng của cộng đồng địa phương và bản địa trong bảo tồn và quản lý bền vững, và đến đa dạng sinh học hoang dã và nuôi trồng. Những thách thức trên cũng buộc nhân loại phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế giữa lợi ích và những giá trị cốt lõi của hệ sinh thái nói riêng  và thiên nhiên nói chung.

Văn Hiếu

  • Tags: