Trận chiến 30 ngày

Dưới sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Trung Quốc, từ 3g30 ngày 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn (hơn 600 nghìn quân) tiến công sang lãnh thổ của Việt Nam. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng, hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn), hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu), hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên. Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 17-2-1979, Chính phủ ta đã ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đã đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước và khẳng định: “Quân và dân Việt Nam không có con đường nào khác phải dùng quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả”. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta nhất là ở các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc một lần nữa phát huy cao độ truyền thống cách mạng, sát cánh cùng các lực lượng vũ trang, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Mở đầu cuộc tiến công, đối phương sử dụng các quân đoàn 43,55 và 54 (dự bị), có 160 xe tăng, xe bọc thép, 350 pháo cơ giới, chia ra làm nhiều mũi đánh vào Bản Chắt (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng. Về phía ta lực lượng vũ trang địa phương đã chặn đánh các mũi tiến công của quân Trung Quốc suốt ba ngày (từ ngày 17 đến 20-2) ở phía Tây đường 1A và đường 1B. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt. Lạng Sơn có 10 đồn, trạm, đơn vị cơ động CAND vũ trang (nay là bộ đội Biên phòng) trực tiếp chiến đấu liên tục đánh chặn, gây cho đối phương một số thiệt hại.

Sau 10 ngày tiến công không đạt mục tiêu đề ra, ngày 27-2 phía Trung Quốc huy động quân đoàn 54 dự bị vào hỗ trợ các quân đoàn 43, 55 tiến công từ 3 hướng Đồng Đăng, Cao Lộc, Lộc Bình nhằm tiêu diệt thị xã Lạng Sơn. Các đơn vị chủ lực Quân khu 1 và lực lượng vũ trang địa phương đánh chặn quyết liệt gây cho đối phương nhiều thiệt hại. Nhằm tăng cường lực lượng nâng cao sức mạnh đột kích sức cơ động cao bảo đảm chiến đấu liên tục, mở những trận phản công quy mô lớn trên mặt trận Lạng Sơn, ngày 2-3-1979, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Quân đoàn 5 thuộc Quân khu 1. Quân đoàn 5 được biên chế 4 Sư đoàn bộ binh, các trung đoàn: Pháo binh, cao xạ, tăng thiết giáp, thông tin; Lữ đoàn công binh và các cơ quan, đơn vị phục vụ. Dựa vào thế quân đông, chiều ngày 4-3 quân Trung Quốc sử dụng bộ binh có xe tăng hỗ trợ mở đợt tiến công đánh chiếm thị xã Lạng Sơn. Các đơn vị chủ lực Quân khu 1 cùng bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn và các huyện chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, giữ vũng địa bàn.

Trên mặt trận Cao Bằng, vào sáng ngày 17-2-1979 phía Trung Quốc huy động 2 quân đoàn 41, 42 và quân đoàn 50 làm lực lượng dự bị, hai trung đoàn địa phương Quảng Tây, 4 trung đoàn độc lập, 225 xe tăng, xe bọc thép, hơn 300 pháo cơ giới, nhiều đơn vị sơn cước, hàng chục tiểu đoàn các xã giáp biên và hàng nghìn dân binh chia làm hai cánh. Một cánh do quân đoàn 41 đảm nhiệm tiến công vào Phục Hòa, Đông Khê. Mục tiêu chủ yếu là đánh vào thị xã Cao Bằng và tiêu diệt Sư đoàn 346 của ta. Cuộc chiến đấu trên mặt trận Cao Bằng diễn ra quyết liệt. Các đơn vị thuộc Sư đoàn 346 bộ đội địa phương tỉnh Cao Bằng cùng lực lượng dân quân tự vệ đã chiến đấu anh dũng, lập chiến công oanh liệt, buộc đối phương chịu nhiều thiệt hại.

Trên mặt trận Hoàng Liên Sơn từ 4g đến 6g ngày 17-2, quân Trung Quốc dùng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ nước ta. Sau đó, huy động 2 quân đoàn 13, 14, một sư đoàn (thuộc quân đoàn 50) cùng một số trung đoàn địa phương, có 100 xe tăng, xe bọc thép và 450 khẩu pháo hỗ trợ, chia làm hai cánh: Một cánh do quân đoàn 13 đảm nhiệm tiến công theo hữu ngạn sông Hồng đánh vào thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường; một cánh do quân đoàn 14 theo tả ngạn sông Hồng đánh vào Mường Khương, Bản Phiệt, Phố Lu. Cuộc chiến đấu trên mặt trận Hoàng Liên Sơn diễn ra rất quyết liệt.

Do bị quân và dân địa phương kiên quyết chặn đánh, ngày 19-2 quân Trung Quốc mới vào được thị xã Lào Cai. Tiếp đến ngày 25-2 quân đối phương chiếm được thị xã Cam Đường. Được tăng cường lực lượng, ngày 5-3 đối phương chiếm các mục tiêu Cốc San, Phố Lu và Sapa. Như vậy, sau 17 ngày tiến công trên hướng Hoàng Liên Sơn, đối phương tiến sâu được 40 km nhưng cũng không còn khả năng để tiếp tục tiến công do quân và dân ta chặn đánh. Trên mặt trận Lai Châu, phía Trung Quốc huy động quân đoàn 11 đánh vào Pa Nậm Cúm, Nậm Xe, mục tiêu chính là thị trấn Phong Thổ. Sáng ngày 17-2 hai sư đoàn thuộc quân đoàn 11 cùng lực lượng dân binh, có xe tăng và pháo binh hỗ trợ chia làm ba mũi tiến vào Lai Châu.

Trên mặt trận Hà Tuyên (nay là Hà Giang, Tuyên Quang) phía Trung Quốc huy động 2 sư đoàn và một số trung đoàn địa phương chia làm ba mũi tiến công vào các khu vực Thanh Thủy, Đồng Văn và Mèo Vạc. Ngày 18-2 phía Trung Quốc huy động bộ binh có pháo binh hỗ trợ mở cuộc tiến công vào chốt do tự vệ 784 lâm trường Mèo Vạc và dân quân Thượng Phòng (huyện Mèo Vạc) trấn giữ. Trên mặt trận Quảng Ninh quân Trung Quốc huy động 2 sư đoàn bộ binh chia làm hai mũi: Một mũi tiến công vào Thán Phán (huyện Móng Cái) và một mũi tiến công vào Cao Ba Lanh (huyện Bình Liêu) đồng thời dùng pháo bắn dữ dội vào thị xã Móng Cái và các khu vực Hoành Bồ, Đồng Văn hòng phối hợp với cánh quân hướng chủ yếu ở Lạng Sơn.

Trải qua 10 ngày chiến đấu, lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Tuy nhiên, do có ưu thế quân đông và nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật nên quân Trung Quốc đã tiến sâu vào nội địa ta trên một số hướng như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai và lần lượt chiếm các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Cam Đường, Lạng Sơn, thị trấn Phong Thổ và một số địa bàn trên vùng biên giới phía Bắc sau khi ta chủ động chuyển lực lượng về tuyến sau.

Do không đạt được mục đích đề ra, bị quân và dân các tỉnh biên giới giáng trả mạnh mẽ, bị tổn thất nặng nề, đồng thời bị dư luận tiến bộ trên thế giới và trong nước lên án mạnh mẽ, ngày 5-3-1979 Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân trên tất cả các hướng. Với truyền thống nhân nghĩa, bao dung và mong muốn củng cố hòa bình, hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Trung ương Đảng và Chính phủ ta chỉ thị cho lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để Trung Quốc rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh về nước. Từ ngày 6-3-1979 phía Trung Quốc vừa rút quân vừa đánh phá gây nhiều thiệt hại về người và của đối với đồng bào ta ở một số vùng giáp biên giới. Đến ngày 18-3-1979 về cơ bản Trung Quốc đã rút quân khỏi nước ta.

ky 1 ky uc khong bao gio quen
Đồ họa cuộc tấn công của quân Trung Quốc tại các tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc vào năm 1979. Ảnh tư liệu

Cuộc chiến kéo dài

Mặc dù tuyên bố rút quân nhưng trên thực tế từ sau ngày 18-3-1979 phía Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên, có nơi sâu từ 200 đến 500 mét, thường xuyên gây xung đột vũ trang, làm cho tình hình luôn căng thẳng, kéo dài đến năm 1989. Trung Quốc đã duy trì nhiều đơn vị quân đội gây xung đột, lấn chiếm biên giới. Từ tháng 4-1984 đến tháng 5-1989, Trung Quốc đưa hớn 500.000 quân đánh chiếm biên giới Vị Xuyên, mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên trở thành vùng chiến sự ác liệt nhất trong cuộc chiến chống xâm lấn biên giới.

Đến giữa năm 1984, quân Trung Quốc lần lượt chiếm đóng trái phép nhiều cao điểm của Việt Nam như: 226, 233, 685, 772, 1030, 1250, 1509... thuộc tỉnh Hà Giang. Sư đoàn 312, 316, 356 được lệnh tiến hành chiến dịch phản công giành lại các điểm cao. Ngày 12-7-1984, trận mở màn chiến dịch giành lại cao điểm 772 diễn ra ác liệt. Quân Trung Quốc được hỏa lực mạnh yểm trợ, lại chiếm được các điểm cao có lợi đã gây cho ta nhiều thiệt hại, hàng nghìn cán bộ, chiến sỹ hy sinh. Sau trận đánh, các đơn vị của ta tuy không giành lại được các cao điểm đã mất nhưng đã chặn được quân Trung Quốc thực hiện ý định vượt qua ngã ba Thanh Thủy để tiến xuống thị xã Hà Giang.

Từ tháng 7-1984 về sau, Vị Xuyên tiếp tục là mặt trận ác liệt, hai bên giành giật nhau từng vị trí trên các điểm cao. Đỉnh điểm diễn ra vào đầu năm 1985, có ngày quân Trung Quốc bắn tới 30.000 quả đại bác vào Vị Xuyên trong khoảng chiều rộng 5 km, chiều sâu 3 km. Thương vong của hai phía trong các cuộc xung đột kéo dài 10 năm ở mặt trận Vị Xuyên rất lớn. Theo thống kê của Ban liên lạc cựu chiến binh mặt trận Vị Xuyên, từ năm 1984 đến 1989, hơn 4.000 bộ đội Việt Nam hy sinh, hàng nghìn người bị thương, nhiều liệt sĩ chưa tìm được hài cốt…

(Còn nữa)

Theo phapluatxahoi.vn