Trong đó có: Đổi mới quản trị ĐH, tăng cường vai trò của Hội đồng trường, quy định các trường phải ban hành hệ thống quy định quy chế nội bộ, công khai minh bạch thông tin về các điều kiện đảm bảo chất lượng, tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp…; Đổi mới quản lý Nhà nước từ chỗ còn một số nội dung phê duyệt, cấp phép… theo Luật hiện hành sang việc kiện toàn hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, hướng dẫn thực hiện, tăng cường kiểm định chất lượng, tạo môi trường cạnh tranh nâng cao chất lượng; tăng cường kiểm tra, thanh tra, công khai kết quả kiểm định, thanh kiểm tra… để đảm bảo chất lượng.

mo rong nang cao quyen tu chu dai hoc
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GDĐH mở rộng nâng cao quyền tự chủ đại học .

Bên cạnh đó, từ những quy định của Luật, vai trò của Hội đồng trường đã được phân định rõ với ban giám hiệu. Việc kiện toàn bộ máy quản trị tạo điều kiện cho các trường phát huy sự năng động, sáng tạo của mình trong tất cả các phương diện hoạt động: học thuật, tài chính, nhân sự để phục vụ cho chính sách phát triển của nhà trường, đủ sức cạnh tranh trong toàn hệ thống và với quốc tế.

Cũng theo Luật, các trường tự chủ mở ngành theo các quy định hiện hành về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện đảm bảo chất lượng khác. Các tiêu chuẩn này hiện nay vẫn giữ như trong Luật, đồng thời bổ sung thêm những quy định khắt khe hơn để đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của các ngành mới mở như bổ sung các quy định về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp của trường đó trong những năm trước ra sao thì mới có thể được mở ngành mới hay nhà trường phải đảm bảo đáp ứng cơ chế kiểm định chất lượng.

Cụ thể là trường phải được kiểm định và đạt kết quả kiểm định nhất định thì mới được mở các ngành của trình độ ĐH, ngành đào tạo của trình độ ĐH phải được kiểm định rồi mới được mở các ngành đào tạo thạc sỹ tương ứng, ngành đào tạo thạc sĩ được kiểm định rồi mới được mở ngành tiến sỹ phù hợp.

Ngoài ra, việc mở ngành còn phải do Hội đồng trường quyết định và theo đó, Hội đồng trường theo quy định mới, không chỉ những người trong trường mà còn cả những người ngoài trường với tỷ tệ tối thiểu 30% là các nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, các cơ quan của tổ chức khác. Những người này sẽ xem xét việc xã hội có cần ngành học đó hay không, điều kiện đảm bảo chất lượng của trường có đủ đáp ứng yêu cầu đào tạo của ngành học đó hay không. Điều đó có nghĩa rằng, nhà trường phải cân nhắc tới năng lực của mình có đáp ứng được yêu cầu đào tạo đó không.

Luật cũng quy định quyền tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình. Cụ thể là: cơ sở GDĐH có trách nhiệm báo cáo, thông tin đối với người học, xã hội, cơ quan quản lý, chủ sở hữu và các bên liên quan về việc tuân thủ các quy định của pháp luật và thực hiện đúng các quy định, cam kết của cơ sở GDĐH. Những thông tin về chỉ tiêu tuyển sinh, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, học phí, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đều phải công khai trên kênh thông tin chính thức của trường để người học xã hội tham khảo, giám sát.

Bên cạnh đó, Luật mới cũng quy định biện pháp công khai minh bạch thông tin, kiểm định chất lượng, thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm và công khai kết quả kiểm định, thanh tra để người học, các cơ quan quản lý có thẩm quyền và xã hội cùng giám sát.

Như vậy, với việc phân cấp, phân quyền rõ ràng như trong Luật GDĐH sửa đổi bổ sung, thì những vấn đề về tuyển sinh, chỉ tiêu, mở ngành hoặc bổ nhiệm nhân sự, định mức học phí là trách nhiệm và quyền của các trường ĐH. Bộ GD&ĐT xây dựng các chuẩn chất lượng, cơ chế, chính sách, hướng dẫn, tổ chức thực hiện; thúc đẩy cạnh tranh nâng cao chất lượng… và thông qua thanh tra, kiểm tra, giám sát của xã hội để quản lý, phát hiện những cơ sở GD vi phạm để áp dụng chế tài xử phạt theo đúng Luật định, công khai kết quả xử lý vi phạm để phòng ngừa chung.